Đề khảo sát chất lượng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thanh Mai (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:07' 01-10-2023
Dung lượng: 277.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thanh Mai (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:07' 01-10-2023
Dung lượng: 277.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chuyên đề 1
Giới thiệu cách tiếp cận và cảm thụ
một số thể loại tác phẩm văn học trữ tình.
Buổi 1: CẢM THỤ CA DAO
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức:
- HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
văn học dân gian.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
I. Những điều cần lưu ý khi làm bài cảm thụ văn học.
- Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm nhưng tác phẩm trữ tình
lại thể hiện tình cảm theo cách riêng .
Từ những câu ca dao xưa tới những bài thơ đương đại, dấu hiệu chung của tác
phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp của thế giới chủ quan của con người . Đó là
cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của chính tác giả. Và biểu hiện trực tiếp những cảm xúc,
suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình.
Muốn hiểu được một tác phẩm trữ tình thì chúng ta cần hiểu hai lớp nội dung :
1
- Nội dung hiện thực đời sống.
- Nội dung của những ý nghĩ, cảm xúc, suy tư ẩn sau hiện thực đời sống.
Cụ thể hơn đó chính là hiểu: cảnh và tình trong mỗi tác phẩm .
1. Với ca dao:
- Phải xác định được ca dao chính là những lời nói tâm tình, là những bài ca bắt
nguồn từ tình cảm trong mối quan hệ của những người trong cuộc sống hàng ngày:
tình cảm với cha mẹ, tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng, tình cảm bạn bè ... hiểu
được điều đó sẽ giúp người đọc và học sinh ý thức sâu sắc hơn về tình cảm thông
thường hàng ngày .
- Phải hiểu tác phẩm ca dao trữ tình thường tập trung vào những điều sâu kín tinh vi
và tế nhị của con người nên không phải lúc nào ca dao cũng giãi bầy trực tiếp mà phải
tìm đường đến sự xa sôi, nói vòng, hàm ẩn đa nghĩa. Chính điều ấy đòi hỏi người cảm
thụ phải nắm được những biện pháp nghệ thuật mà ca dao trữ tình thường sử dụng
như : ẩn dụ so sánh ví von :
Ví dụ :
“ Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? ”
- Phải hiểu rõ hai lớp nội dung hiện thực - cảm xúc suy tư . “.”
Ví dụ trong bài ca dao
“ Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” .
Bức tranh đời sống trong bài ca dao được tái hiện lên rất cụ thể, sinh động :
Một vẻ đẹp “ Không gì đẹp bằng ” của hoa sen trong đầm. Đó là vẻ đẹp rực rỡ,
đầy màu sắc và hương thơm, một vẻ đẹp vươn lên giữa bùn lầy mà vẫn vô cùng thanh
khiết trắng trong.
Vẻ đẹp của loài hoa này đã được tác giả khảng định bằng phương thức so sánh
tuyệt đối :
“ Trong đầm gì đẹp bằng sen ”
Tiếp đến là mô tả cụ thể từng bộ phận của cây sen để chứng minh vẻ đẹp của nó
“Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng ” .
2
Cây sen , hoa sen hiện lên với dáng vẻ, màu sắc, hương thơm . Sự đối sánh bất
ngờ trong liên quan với hoàn cảnh càng khảng định phẩm chất của loài sen, một
phẩm chất tốt đẹp bên trong tương ứng với vẻ bên ngoài .
“ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” .
Không chỉ dừng lại ở đó, bài ca giao còn là lời ngợi ca, khảng định, tự hào về
phẩm chất không chỉ của loài hoa đẹp đẽ , giản dị , gần gũi với người lao động mà còn
của những con người có phẩm chất thanh cao trong sạch , những con người không bao
giờ bị tha hoá bởi hoàn cảnh.
II. Luyện tập:
Bài 1: Nêu cảm nhận sâu sắc của em về câu ca dao sau:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Gợi ý làm bài:
HS trình bày được một số ý cơ bản sau:
Câu ca dao là tâm trạng của một người con gái lấy chồng xa, nhớ mẹ, nhớ nhà, nhớ
quê hương.
- Mở đầu bằng mô típ quen thuộc: “chiều chiều” là giai diệu nhè nhẹ, buồn thương.
Điệu tâm hồn biểu hiện trong câu ca dao vô cùng đặc sắc, nó quyện vào tâm hồn
người đọc, người nghe.
Câu ca dao thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính không gian (ngõ
sau, quê mẹ). Buổi chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống, ngày sắp tàn vũ trụ sắp đi
vào cõi hư vô. Đây là những khoảng thời gian gợi nhớ, gợi sầu cho những kẻ tha
hương.
Thời gian cứ lặp đi lặp lại “ngõ sau” chứ không phải là ngõ trước? Ngõ sau mới
trông ra cánh đồng hắt hiu vắng vẻ, phải là “chiều chiều” khi cơm nước xong xuôi thì
người con gái mới có thời gian để nhớ về quê mẹ. Sự lặp đi lặp lại của thời gian cũng
chính là sự lặp lại một hành động (ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ) của một tâm
trạng. Nghĩ về quê hương là nghĩ về mẹ, bóng hình mẹ đã tạc vào hình bóng quê
hương. Nhân vật trữ tình trong câu ca dao không được giới thiệu chi tiết cụ thể.
Nhưng ta vẫn thấy hiện lên hình ảnh cô gái xa quê, nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ gia đình...
(đi lấy chồng xa?). Chắc là nhớ lắm, nhớ da diết nên cứ chiều chiều và chiều nào cũng
vậy cô ra ngõ sau ngậm ngùi ngóng về quê mẹ.
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau”
3
- Cô gái đứng ở “ngõ sau” vào buổi “chiều chiều” trông ngóng về quê hương – nơi có
những ngày tháng hạnh phúc êm đềm bên cha mẹ, có những bậc sinh thành đang cần
người phụng dưỡng, còn mình thì phải làm dâu xứ người mà lòng thương nhớ, đau
đớn, xót xa “ruột đau chín chiều”.
Càng trông về quê mẹ càng lẻ loi, cô đơn nơi quê người, nỗi thương nhớ da diết
không nguôi:
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Quê mẹ sau luỹ tre xanh. Nơi cô gái sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của
gia đình, làng xóm. Biết bao kỉ niệm buồn vui cùng gia đình bè bạn. Nơi mà chiều
chiều chăn trâu cắt cỏ, có dòng sông nhỏ uốn quanh, có cánh đồng cò bay thẳng cánh,
có bà con chất phác hiền lành lam lũ sớm hôm. Nơi ấy mẹ cha tần tảo sớm khuya nuôi
con khôn lớn. Nơi ấy, cô gái được yêu chiều trong vòng tay của mẹ. Vậy mà giờ đây,
nơi quê người đất khách lòng cô lại càng xót xa, thương nhớ. Giờ này sau luỹ tre xanh
mẹ già, với mái tóc bạc phơ đang tựa cửa ngóng đứa con xa.
Bốn tiếng “ruột đau chín chiều” diễn tả nỗi đau nhiều bề, quặn thắt, âm ỉ, dai dẳng
làm héo mòn tâm hồn con người. Buổi chiều nào cô gái cũng nhớ về quê mẹ, trông
hướng nào cũng thấy tê tái, xót xa. Càng nhớ, người con lại càng thương, nỗi buồn cứ
như vậy tăng lên gấp bội. Dường như nỗi nhớ ấy, sự cô đơn ấy không có giới hạn.
- Đây cũng có thể là niềm cay đắng, xót xa cho thân phận làm dâu của cô gái dưới
thời phong kiến cũ (bị nhà chồng hắt hủi, coi thường, nhiều nỗi tủi hờn mà không có
ai chia sẻ). Hoặc cũng có thể là nỗi xót xa của người con gái lấy chồng xa quê không
được phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già.
Bài ca dao là tình cảm mẹ con, tình cảm quê hương và gia đình sâu sắc trong tâm
hồn mỗi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn sâu nặng của
người con gái xa quê đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình sâu lắng, lời thơ êm ái nhẹ
nhàng gợi lên trong lòng người đọc bao liên tưởng về tình cảm mẹ con, gia đình,
những kỉ niệm yêu dấu tuổi thơ.
Bài 2: Đọc bài ca dao sau và trình bày suy nghĩ của em:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,
Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này ?
Gợi ý làm bài:
4
Bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp của một địa danh được coi là “biểu tượng thu nhỏ” của đất
nước Việt Nam: cảnh hồ Gươm với các nét đặc sắc mang trong mình âm vang lịch sử
và văn hóa.
Mở đầu bài ca là hai chữ “rủ nhau”. “Rủ nhau” là gọi nhau cùng đi, đông vui hồ hởi.
Ca dao có nhiều bài sử dụng hai tiếng “rủ nhau”'. “Rủ nhau ra tắm hồ sen…”, “Rủ
nhau xuống bể mò cua..”, “Rủ nhau lên núi đốt than…”, “Rủ nhau chơi khắp Long
Thành..”. Dù cuộc đời còn nhiều mưa nắng, nhưng dân quê vẫn “rủ nhau' lên đường,
đi xem hội, đi kiếm sống, ở trong bài ca dao này là rủ nhau đi tham quan Hà Nội. Chữ
“xem” được điệp lại ba lần, vừa gợi tả niềm khao khát say mê, vừa mở lòng đón chờ
vẫy gọi:
“Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn”
Kiếm Hồ là hồ Hoàn Kiếm, nơi Lê Lợi trả kiếm báu “Thuận Thiên” cho Rùa Vàng.
Một cảnh đẹp, một vùng đất thiêng của đất “Rồng bay lên”. Cầu Thê Húc là cầu đón
ánh sáng, biểu tượng rất đẹp nói lên niềm tự hào về mọi tinh hoa của đất trời, Tổ
quốc, của dân tộc hội tụ về Thăng Long, Hà Nội. Chùa Ngọc Sơn còn gọi là đền Ngọc
Sơn là một nét đẹp cổ kính của Hồ Gươm.
Hai câu đầu bài ca mở ra trong tâm hồn chúng ta nhiều liên tưởng, cùng nhau khám
phá ra bao kì tích, huyền thoại của Hồ Hoàn Kiếm mà thời gian không thể làm phai
mờ.
Không gian nghệ thuật được mở rộng, được đón chào. Càng “xem” càng thấy lạ và
rất thú vị:
“Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này ?”
Hai chữ “chưa mòn” gợi lên trong lòng người đọc nhiều suy tưởng. Đài Nghiên Tháp
Bút là biểu tượng cho nền văn hiến lâu đời và rực rỡ của Đại Việt. Nó thể hiện rất đẹp
đạo học và truyền thống hiếu học của nhân dân ta. Hai chữ “chưa mòn” khẳng định sự
bền vững, sự trường tồn của nền văn hiến nước ta. Qua hàng nghìn năm, qua bao
thăng trầm của lịch sử, bao bể dâu Tháp Bút Đài Nghiên vẫn “chưa mòn”, vẫn “trơ
gan cùng tuế nguyệt”. Cũng như đất nước ta, thủ đô ta, nền văn hóa Việt Nam ta ngày
một trở nên giàu đẹp. Hai chữ “chưa mòn” đã kín đáo gửi gắm niềm tự hào và tình
yêu sông núi của nhân dân.Câu kết là một câu hỏi tu từ rất tự nhiên, âm điệu nhắn
nhủ, tâm tình. Đây là dòng thơ xúc động, sâu lắng nhất trong bài ca dao, tác động trực
tiếp vào tình cảm của người đọc, người nghe.“Hỏi ai” là phiếm chỉ, gợi ra nhiều bâng
khuâng, man mác. “Ai” là ông cha, tổ tiên. “Ai” là nhân dân vĩ đại, những con người
5
vô danh. Câu hỏi tu từ để khẳng định và nhắc nhở công lao xây dựng non nước của
ông cha ta qua nhiều thế hệ. Cảnh Kiếm Hồ và nhiều cảnh trí khác của Hồ Gươm
trong bài ca dao được nâng lên tầm non nước, tượng trưng cho non nước.
Câu hỏi còn hàm ý nhắc nhở các thế hệ con cháu phải biết giữ gìn, xây dựng non
nước cho xứng đấng với truyền thống cha ông.
Bài ca dao ngắn gọn mà chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa: vừa ngợi ca vẻ đẹp thiên
nhiên, vẻ đẹp văn hóa của đất nước, vừa thể hiện lòng biết ơn tổ tiên ông cha, biết ơn
nhân dân một cách xúc động.
4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
4.1. Tổng kết:
- GV khái quát lại kiến thức.
4.2. Hướng dẫn tự học:
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
Buổi 2: CẢM THỤ CA DAO (Tiếp theo)
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức:
- HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
văn học dân gian.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
6
Bài 3:
Trình bày cảm nhận của em về bài ca dao sau:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Gợi ý làm bài:
Bài ca dao là cảnh sáng sớm mùa thu nơi kinh thành Thăng Long thuở trước. Mỗi câu
là một cảnh đẹp được chấm phá qua ngòi bút đặc sắc của các tác giả dân gian, tả ít mà
gợi nhiều nhằm ca ngợi cảnh đẹp quê hương. Cái hồn của cảnh vật mang màu sắc cổ
điển.
Cảnh vật Hồ Tây được miêu tả thật nên thơ: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm
thanh hài hòa, sống động. “Gió đưa cành trúc la đà”
Chữ “đưa” gợi làn gió thu thổi nhè nhẹ làm đung đưa những cành trúc rậm rạp, lá
sum suê đang “la đà” sát mặt đất. Cảnh mùa thu thật đẹp. Cành trúc được làn gió thu
trong trẻo, mát lành vuốt ve êm dịu, cùng với gió cành trúc khẽ lay động bay cùng
chiều gió.”Gió đưa cành trúc la đà”. Câu thơ có màu xanh của trúc, khe khẽ của gió,
và đương nhiên khí thu, tiết thu, bầu trời khoáng đạt, những cánh diều vi vu trên
không, đằng sau những cành trúc la đà là tiếng oanh vàng thánh thót.
-Nếu câu thứ nhất, ta chỉ cảm nhận vẻ đẹp của buổi sáng mùa thu bằng thị giác thì ở
câu thơ thứ hai ta lại cảm nhận bằng âm thanh. Đó là tiếng chuông chùa làng Trấn Vũ
êm êm gây không khí rộn ràng náo động, là tiếng gà tàn canh báo sáng từ làng Thọ
Xương vọng tới. Tiếng chuông ngân vang hoà cùng tiếng gà gáy le te. Âm thanh như
tan ra hoà cùng đất trời sương khói mùa thu. Trong làn sương khói, ánh sáng thu bao
phủ tràn khắp mọi nẻo, nhịp chuông vang vọng cùng gà gáy như làm cho mọi vật
càng mơ màng thơ mộng hơn. Cuộc sống đang say tràn trong niềm vui háo hức. Lấy
xa để nói gần, lấy động để tả tĩnh, nhà thơ dân gian đã thể hiện được cuộc sống êm
đềm, yên vui, thanh bình nơi Kinh thành xưa.
- Câu thứ ba là bức tranh sương khói mùa thu : Khói toả mịt mù được đảo lại “mịt mù
khói toả”. Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ làm tăng sự huyền ảo lung linh của cảnh vật,
của cuộc sống. Mặt đất một màu trắng mờ, do màn sương bao phủ. Nhìn cận cảnh hay
viễn cảnh đều có cảm giác như mặt đất đang chìm trong khói phủ. Cuộc sống yên
bình tĩnh lặng, vũ trụ đang quay, thời gian trôi đi, trời trở về sáng.
- Câu thơ thứ tư: “Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
7
Tiếng chày đều tay từ phường Yên Thái ngân vang dồn dập. Nhịp chày chính là nhịp
đập của cuộc sống lao động, là sức sống mạnh mẽ của kinh đô này. Bình minh ửng
hồng phía đằng Đông xua tan làn sương khói. Hồ Tây mênh mông phẳng lặng như
chiếc gương khổng lồ sáng dần lên in hình phố cổ. Hình ảnh “mặt gương Tây Hồ” là
hình ảnh trung tâm, một tứ thơ đẹp tỏa sáng toàn bài ca dao.
-Bài ca dao tả cảnh đẹp kinh thành Thăng Long, nhưng thông qua miêu tả cảnh, ẩn
chứa tình cảm tự hào về quê hương đất nước. Quê hương đang ngày ngày thay da đổi
thịt, cảnh tình thấm vào nhau rung động mãi trong hồn ta. Tâm hồn tác giả thật say
sưa mới có những vần thơ hay đến vậy. Bài ca dao để lại trong ta ấn tượng tuyệt vời
về Thăng Long. Nó giúp ta yêu hơn tự hào hơn, về kinh đô ngàn năm văn hiến.
Bài 4: Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong bài ca dao sau:
Trong đầm gì đẹp bằng sen?
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Gợi ý làm bài:
a. Một số biện pháp nghệ thuật:
- Câu hỏi tu từ: (câu 1)
- Phép liệt kê: (câu 2 và câu 3)
- Đảo trật tự cú pháp và điệp ngữ (câu 2 và câu 3)
- Ẩn dụ: hình ảnh hoa sen trong đầm lầy là hình ảnh ẩn dụ cho phẩm chất của con
người.
b. Tác dụng:
Câu mở đầu: “Trong đầm gì đẹp bằng sen?
Bằng một câu hỏi tu từ khéo léo, lôi cuốn người nghe, đặt họ vào vị trí và tâm thế
thưởng thức cùng với mình, tác giả đã khẳng định: hoa sen đẹp nhất so với tất cả các
loài hoa nở trong đầm.
Câu thứ hai: “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”.
Để chứng minh cho lời khẳng định ở trên là có cơ sở, tác giả tuần tự miêu tả vẻ đẹp
của cây sen, từ lá xanh qua bông trắng đến nhị vàng. Trên nền xanh của lá, nổi bật
màu trắng tinh khiết của hoa; giữa màu trắng của hoa lại chen chút sắc vàng của nhị.
Từ “lại” được dùng rất tài tình, có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng màu sắc của hoa
sen, từ “chen” nói lên sự kết hợp hài hoà giữa hoa và nhị, tất cả như cùng đua đẹp,
đua tươi. Cảnh đầm sen giống như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp hiện lên dưới
ngòi bút chấm phá thần tinh.
8
Câu thứ ba: “Nhị vàng bông trắng lá xanh”
Câu này có vị trí đặc biệt trong toàn bài vì nó là câu chuyển (chuyển vần, chuyển
nhịp, chuyển ý) để chuẩn bị cho câu kết.
Từ câu thứ hai sang câu thứ ba có sự đột ngột, khác thường trong cách gieo vần {ang,
anh) nhưng nhiều người không để ý. Sở dĩ như vậy là do sự chuyển vần và sự thay đổi
trật tự các từ ngữ và hình ảnh đã được thực hiện một cách khéo léo, tự nhiên, hợp lí vể
cả nội dung và hình thức.
Hai chữ “nhị vàng” ở cuối câu thứ hai được lặp lại ở đầu câu thứ ba (điệp ngữ vòng)
tạo nên tính liên tục trong tư duy, cảm xúc và sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung với
hình thức trong toàn bài.
Hai câu 2 và 3, tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp liệt kê và đảo trật tự từ: tả thực
đến từng chỉ tiết: “lá xanh, bông trắng, nhị vàng” (tả đi); rồi tả lại: “Nhị vàng, bông
trắng, lá xanh”. Tả từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới. Dường như người tả đang cố
chứng minh bằng được vẻ đẹp của sen: đẹp từ sắc lá đến màu hoa, màu nhị. Sau đó lại
nhấn mạnh thêm bằng cách đảo ngược: đẹp từ màu nhị đến màu hoa, sắc lá. Nghệ
thuật miêu tả ở đây mới đọc qua tưởng chừng đơn giản, song thực sự đã đạt tới trình
độ điêu luyện, tinh vi. Nghệ thuật ấy đã tôn vinh hoa sen lên hàng hoa quý, xứng đáng
tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính.
Câu thứ tư: “Gần bùn mà chẳng hồi tanh mùi bùn”.
Dù mang tính chất ẩn dụ tượng trưng nhưng trước hết vẫn là tả thực về môi trường
sống của cây sen. Sen thường sống ở trong ao, trong đầm lầy, nơi có nhiều bùn. Ấy
vậy mà hoa sen lại rất thơm, một mùi thơm thanh khiết lạ lùng! Có thể coi đây là cái
nút của toàn bài ca dao. Thiếu câu ca dao này, hình tượng của hoa sen vẫn tồn tại
nhưng không có linh hồn và ý nghĩa. Nếu câu ca dao mở đầu là luận để mang ý nghĩa
khái quát về hình tượng của hoa sen thì đến câu kết của bài ca dao, hình tượng bông
sen trong tự nhiên đã chuyển sang hình tượng bông sen trong cuộc đời một cách uyển
chuyển, nhẹ nhàng không có một sự gượng ép nào. Do đó mà nghĩa bóng của hoa sen
cũng mở rộng không giới hạn. Chính vì vậy mà tính chất tượng trưng, ẩn dụ của hình
tượng thơ nổi lên, lấn át hình ảnh thực. Nó tựa hồ như một cánh cửa kì diệu, khép
nghĩa đen lại và mở nghĩa bóng ra một cách thần tình. Và thế là trong phút chốc, sen
hóa thành người, bùn trong đầm (nghĩa đen) biến thành bùn trong cuộc đời (nghĩa
bóng). Rồi cả hình ảnh cái đầm cùng mùi hôi tanh của bùn cũng được coi là ẩn dụ
tượng trưng vì nó được hiểu theo nghĩa bóng với những mức độ rộng hẹp, xa gần
khác nhau tuỳ theo trình độ mỗi người hoa sen. Có một cái gì đó rất gần gũi, đổng
điệu giữa phẩm chất của hoa sen và phẩm chất của người lao động. Mùi bùn gợi liên
9
tưởng đến những cái xấu xa, thấp hèn của mặt trái xã hội phong kiến suy tàn cùng với
lũ tham quan ô lại vô liêm sỉ. Còn vẻ đẹp trong trẻo và hương thơm ngát của hoa sen
tượng trưng cho phẩm chất trong sạch, thanh cao, không chịu khuất phục trước hoàn
cảnh của con người Việt Nam…..
4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
4.1. Tổng kết:
- GV khái quát lại kiến thức.
4.2. Hướng dẫn tự học:
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
--------------------------------------------------------Buổi 3: CẢM THỤ CA DAO (Tiếp theo)
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức: HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của
các tác phẩm văn học dân gian.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
Bài tập 5: Nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau:
“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
“Thân em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.”
10
Gợi ý làm bài:
Bài ca dao này có hai cái đẹp: cái đẹp của cánh đồng và cái đẹp của cô gái thăm đồng.
Cả hai cái đẹp đều được miêu tả rất hay. Cái hay ở đây là cái hay riêng của bài ca dao
này, không thấy có ở bất kỳ một bài ca dao nào khác.
Ca dao thường được viết bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài ca dao này, nhà thơ
dân gian đã viết bằng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ. Phân tích
bài ca dao này, nhiều người thường chia ra hai phần: phần trên (hai câu đầu) là hình
ảnh cánh đồng; phần dưới (hai câu cuối) là hình ảnh cô gái thăm đồng. Thực ra không
hoàn toàn như vậy. Bởi vì, ngay từ hai câu đầu, hình ảnh cô gái thăm đồng đã xuất
hiện hết sức rõ ràng và sống động với tất cả dáng điệu của một con người năng nổ,
tích cực. Cô thôn nữ không làm chuyện văn chương thơ phú như ai, mà cô chỉ nói lên
những rung động, những cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên của lòng mình khi ngắm nhìn
cánh đồng lúa thân yêu của làng quê. Trước mắt là cánh đồng lúa “bát ngát mênh
mông… mênh mông bát ngát”, thắng cánh cò bay, càng trông, càng “ngó”, càng thích
thú tự hào. Đứng “bên ni” rồi lại đứng “bên tê” để ngắm nhìn, quan sát cánh đồng từ
nhiều phía, dường như cô muốn thâu tóm, nắm bắt, cảm nhận cho thật rõ tất cả cái
mênh mông bát ngát của đồng lúa quê hương. Câu ca dài mãi ra cũng với chân trời,
với sóng lúa:
“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
“Ngó” gần nghĩa với với nhìn, trông, ngắm nghía… Từ “ngó” rất dân dã trong văn
cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn không chán mắt, một cách quan sát kỹ
càng. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó
bên ni đồng”, dù ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước
sự “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” của cánh đồng thân thuộc. Hai tiếng
“bên ni” và “bên tê” vốn là tiếng nói của bà con Thanh, Nghệ dùng để chỉ vị trí “bên
này”, “bên kia”, được đưa vào bài ca thể hiện đức tính mộc mạc, chất phác của cô
thôn nữ, của một miền quê. Nghệ thuật đảo từ ngữ: “mênh mông bát ngát // bát ngát
mênh mông” góp phần đặc tả cánh đồng lúa rộng bao la, tưởng như không nhìn thấy
bến bờ. Có yêu quê hương tha thiết mới có cái nhìn đẹp, cách nói hay như thế!
Cả hai câu đầu đều không có chủ ngữ, khiến cho người nghe, người đọc rất dễ
đồng cảm với cô gái, tưởng chừng như đang cùng cô gái đi thăm đồng, đang cùng cô
“đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng…” và ngược lại. Nhờ vậy mà cái cảm giác về sự
mênh mông, bát ngát của cánh đồng cũng lan truyền sang ta một cách tự nhiên và ta
cảm thấy như chính mình đã trực tiếp cảm nhận, rút ra và nói lên điều đó.
11
Nếu như ở hai câu đầu, cô gái phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ cánh đồng lúa
quê hương để chiêm ngưỡng sự “bát ngát mênh mông” của nó, thì ở hai câu cuối, cô
gái lại tập trung ngắm nhìn, quan sát và đặc tả riêng một “chẽn lúa đòng đòng” và liên
hệ so sánh với bản thân mình một cách rất hồn nhiên”
“Thân em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.”
“Chẽn lúa” còn gọi là nhánh lúa, một bộ phận của khóm lúa. “Chẽn lúa đòng đòng”
nói lên sự trưởng thành, sinh sôi nẩy nở, hứa hẹn một mùa sây hạt, trĩu bông. Hình
ảnh so sánh “Thân em như “chẽn lúa đòng đòng” gợi tả một vẻ đẹp duyên dáng, xinh
tươi, một sức lực căng tràn hứa hẹn. Đây là một hình ảnh trẻ trung, khoẻ khoắn, hồn
nhiên nói về cô gái Việt Nam trong ca dao, dân ca. “Phất phơ” là nhẹ nhàng đung
đưa, uốn lượn... “Chẽn lúa đòng đòng” phất phơ nhẹ bay trước làn gió trên đồng nội
một buổi sớm mai hồng tuyệt đẹp. “Em” sung sướng hân hoan thấy hồn mình phơi
phới niềm vui trước một bình minh đẹp. Có thể dùng hình ảnh “tia nắng”, “làn nắng”
mà ý câu ca dao vẫn không thay đổi. Nhưng “ngọn nắng” hay hơn, sát nghĩa hơn, và
đó là làn nắng, tia nắng đầu tiên của một ngày nắng đẹp, ánh hồng rạng đông đang
nhuốm hồng ngọn lúa đòng đòng xanh ngào ngạt. Hai câu cuối bài ca hội tụ bao vẻ
đẹp nói lên một tình quê vơi đầy. Vẻ đẹp màu xanh của lúa, mà hồng của nắng ban
mai,… Vẻ đẹp duyên dáng, xinh tươi của cô thôn nữ và vẻ đẹp căng tràn nhựa sống
của “chẽn lúa đòng đòng” trên cánh đồng bát ngát mênh mông. Qua đó, ta cảm nhận
được vẻ đẹp của ngôn từ chính xác, hình tượng và biểu cảm. Giá trị thẩm mĩ của bài
ca là ở cách nói mộc mạc, bình dị mà hồn nhiên, đáng yêu. Hai tiếng “thân em” gợi ra
trong lòng người thưởng thức ca dao, dân ca một trường liên tưởng về hình ảnh cô gái
làng quê: trinh trắng, dịu dàng, cần mẫn, thuỷ chung… những nàng “môi cắn chỉ quết
trầu”, rất đáng yêu, đáng nhớ? Đọc bài ca dao này có người tự hỏi: buổi sớm mai
hồng của mùa xuân hay mùa thu? Mùa xuân mới có “ngọn nắng hồng ban mai” đẹp
rực rỡ như thế. Vả lại đó cô thiếu nữ thì phải có mưa xuân. Người đọc xưa nay vẫn
cảm nhận là cô thôn nữ vác cuốc ra thăm đồng một sáng sớm mùa xuân đẹp.
Tóm lại, bài ca dao nói về mùa xuân, đồng xanh và cô thôn nữ. Cảnh và người
rất thân thuộc, đáng yêu. Cảnh vừa có diện vừa có điểm, câu ca đồng hiện không gian
nghệ thuật và thời gian nghệ thuật “đơn sơ mà lộng lẫy”. Thơ lục bát biến thể sống
động, lối so sánh ví von đậm đà, ý vị. “Thơ ca là sự chắt lọc tâm hồn, là tình yêu ta
mơ ước…”. Đọc bài ca dao “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng…”, ta cảm thấy như
thế. Hương quê và tình quê làm vương vấn tâm hồn ta, đem đến cho ta “tình yêu và
mơ ước”…
12
Bài tập 6: Trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của bài ca dao sau:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.”
Gợi ý làm bài:
HS viết thành bài văn cảm nhận đảm bảo các ý cơ bản sau:
- Bài ca dao giản dị, thể hiện sâu sắc, thấm thía tình yêu quê hương đất nước gắn bó
hài hòa với tình yêu lứa đôi của chàng trai.
- Thể thơ lục bát truyền thống kết hợp với nhịp thơ chẵn, giọng thơ tâm tình sâu lắng,
rất phù hợp để diễn tả tình cảm nhớ nhung, bịn rịn.
- Điệp từ “nhớ” điệp lại tới 5 lần diễn tả tình yêu tha thiết của chàng trai với cảnh vật
và con người quê hương. Cách diễn đạt nỗi nhớ cũng thật đặc biệt: từ xa đến gần, từ
chung đến riêng, từ phiếm chỉ đến xác định.
- Hệ thống hình ảnh thơ vừa giản dị vừa gợi cảm được sắp xếp theo trình tự từ chung
đến riêng làm nổi bật sự thống nhất giữa tình yêu quê hương và tình cảm đôi lứa.
- Từ “quê nhà” mang tính khát quát, gợi sự thân thương, gần gũi. Đó có thể là cây đa,
bến nước, sân đình gắn với bao kí ức tuổi thơ.
- “Canh rau muống”, “cà dầm tương” gợi những món ăn bình dị nhưng chứa đựng nét
đẹp truyền thống của dân tộc. Ai đi xa mà không them, không nhớ.
- Các hình ảnh “Dãi nắng dầm sương” và “tát nước bên đường hôm nao diễn tả nỗi
nhớ con người quê hương tảo tần dãi dầu sương gió, rất đáng yêu, rất đáng trân trọng.
- Tuy nhiên, các hình ảnh này còn được đặt trong mối liên hệ với cách xưng hô độc
đáo: “Anh”, “ai” đã giúp nhân vật trữ tình liên tưởng từ nỗi nhớ quê hương đến nỗi
nhớ người yêu thật tự nhiên, hợp lí. Nếu ở hai câu đầu, nỗi nhớ còn chung chung thì
hai câu sau, đối tượng của nỗi nhớ trở nên cụ thể hơn. Đại từ “ai” phiếm chỉ nhưng rất
xác định. Qua cách xưng hô tình tứ này thì có lẽ đối tượng của nỗi nhớ chỉ có thể là
người bạn gái nơi quê nhà. Nhất là cụm từ “hôm nao”. “Hôm nao” là cái hôm mà cả
hai người đều không thể nào quên được. Nỗi nhớ trở nên thật cụ thể và đáng yêu biết
nhường nào.
4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
4.1. Tổng kết: GV khái quát lại kiến thức.
4.2. Hướng dẫn tự học: Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
13
Buổi 4: CẢM THỤ THƠ VĂN TRỮ TÌNH
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức: HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của
các tác phẩm văn thơ trữ tình.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các tác phẩm thơ trữ
tình.
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
I. Một số lưu ý khi làm bài văn cảm nhận tác phẩm trữ tình:
- Nắm vững hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời và sự nghiệp của từng tác giả. Bởi vì có
những tác phẩm : “Trữ tình thế sự ”, đó là những tác phẩm nghi lại những xúc động,
những cảm nghĩ về cuộc đời về thế thái nhân tình. Chính thơ “ trữ tình thế sự ” gợi
cho người đọc đi sâu suy nghĩ về thực trạng xã hội. Cả hai tác giả Nguyễn Trãi Nguyễn Khuyến đều sáng tác rất nhiều tác phẩm khi cáo quan về quê ở ẩn . Phải
chăng từ những tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến thì người đọc hiểu được
suy tư về cuộc đời của hai tác giả đó.
- Hiểu rõ ngôn ngữ thơ trữ tình giàu hình ảnh:
Hình ảnh trong thơ không chỉ là hình ảnh của đời sống hiện thực mà còn giàu
màu sắc tưởng tượng bởi khi cảm xúc mãnh liệt thì trí tưởng tượng có khả năng bay
xa ngoài “ vạn dặm ”.
-Mục đích chính của hình ảnh trong thơ trữ tình là sự khách thể hoá những rung cảm
nội tâm, bởi thế giới tinh thần và cảm xúc con người vốn vô hình nên nhất thiết phải
dựa vào những điểm tưạ tạo hình cụ thể để được hữu hình hoá.
14
- Hiểu rõ ngôn ngữ thơ trữ tình giàu nhạc tính . Bởi thơ phản ánh cuộc sống qua
những rung động của tình cảm . Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện
bằng từ ngữ mà bằng cả âm thanh nhiịp điệu của từ ngữ ấy . Nhạc tính trong thơ thể
hiện ở sự cân đối tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ.
Nhạc tính còn thể hiện ở sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ. Đó là sự thay đổi âm
thanh cao thấp khác nhau. Chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà
nghĩa không thể nói hết:
“ Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát ” .
(Tố Hữu)
- Đặc điểm nổi bật của thơ trữ tình là rất hàm xúc điều đó đòi hỏi người cảm thụ
phải tìm hiểu từ lớp ngữ nghĩa, lớp hình ảnh, lớp âm thanh, nhịp điệu để tìm hiểu...
Giới thiệu cách tiếp cận và cảm thụ
một số thể loại tác phẩm văn học trữ tình.
Buổi 1: CẢM THỤ CA DAO
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức:
- HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
văn học dân gian.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
I. Những điều cần lưu ý khi làm bài cảm thụ văn học.
- Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm nhưng tác phẩm trữ tình
lại thể hiện tình cảm theo cách riêng .
Từ những câu ca dao xưa tới những bài thơ đương đại, dấu hiệu chung của tác
phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp của thế giới chủ quan của con người . Đó là
cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của chính tác giả. Và biểu hiện trực tiếp những cảm xúc,
suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình.
Muốn hiểu được một tác phẩm trữ tình thì chúng ta cần hiểu hai lớp nội dung :
1
- Nội dung hiện thực đời sống.
- Nội dung của những ý nghĩ, cảm xúc, suy tư ẩn sau hiện thực đời sống.
Cụ thể hơn đó chính là hiểu: cảnh và tình trong mỗi tác phẩm .
1. Với ca dao:
- Phải xác định được ca dao chính là những lời nói tâm tình, là những bài ca bắt
nguồn từ tình cảm trong mối quan hệ của những người trong cuộc sống hàng ngày:
tình cảm với cha mẹ, tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng, tình cảm bạn bè ... hiểu
được điều đó sẽ giúp người đọc và học sinh ý thức sâu sắc hơn về tình cảm thông
thường hàng ngày .
- Phải hiểu tác phẩm ca dao trữ tình thường tập trung vào những điều sâu kín tinh vi
và tế nhị của con người nên không phải lúc nào ca dao cũng giãi bầy trực tiếp mà phải
tìm đường đến sự xa sôi, nói vòng, hàm ẩn đa nghĩa. Chính điều ấy đòi hỏi người cảm
thụ phải nắm được những biện pháp nghệ thuật mà ca dao trữ tình thường sử dụng
như : ẩn dụ so sánh ví von :
Ví dụ :
“ Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? ”
- Phải hiểu rõ hai lớp nội dung hiện thực - cảm xúc suy tư . “.”
Ví dụ trong bài ca dao
“ Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” .
Bức tranh đời sống trong bài ca dao được tái hiện lên rất cụ thể, sinh động :
Một vẻ đẹp “ Không gì đẹp bằng ” của hoa sen trong đầm. Đó là vẻ đẹp rực rỡ,
đầy màu sắc và hương thơm, một vẻ đẹp vươn lên giữa bùn lầy mà vẫn vô cùng thanh
khiết trắng trong.
Vẻ đẹp của loài hoa này đã được tác giả khảng định bằng phương thức so sánh
tuyệt đối :
“ Trong đầm gì đẹp bằng sen ”
Tiếp đến là mô tả cụ thể từng bộ phận của cây sen để chứng minh vẻ đẹp của nó
“Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng ” .
2
Cây sen , hoa sen hiện lên với dáng vẻ, màu sắc, hương thơm . Sự đối sánh bất
ngờ trong liên quan với hoàn cảnh càng khảng định phẩm chất của loài sen, một
phẩm chất tốt đẹp bên trong tương ứng với vẻ bên ngoài .
“ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” .
Không chỉ dừng lại ở đó, bài ca giao còn là lời ngợi ca, khảng định, tự hào về
phẩm chất không chỉ của loài hoa đẹp đẽ , giản dị , gần gũi với người lao động mà còn
của những con người có phẩm chất thanh cao trong sạch , những con người không bao
giờ bị tha hoá bởi hoàn cảnh.
II. Luyện tập:
Bài 1: Nêu cảm nhận sâu sắc của em về câu ca dao sau:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Gợi ý làm bài:
HS trình bày được một số ý cơ bản sau:
Câu ca dao là tâm trạng của một người con gái lấy chồng xa, nhớ mẹ, nhớ nhà, nhớ
quê hương.
- Mở đầu bằng mô típ quen thuộc: “chiều chiều” là giai diệu nhè nhẹ, buồn thương.
Điệu tâm hồn biểu hiện trong câu ca dao vô cùng đặc sắc, nó quyện vào tâm hồn
người đọc, người nghe.
Câu ca dao thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính không gian (ngõ
sau, quê mẹ). Buổi chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống, ngày sắp tàn vũ trụ sắp đi
vào cõi hư vô. Đây là những khoảng thời gian gợi nhớ, gợi sầu cho những kẻ tha
hương.
Thời gian cứ lặp đi lặp lại “ngõ sau” chứ không phải là ngõ trước? Ngõ sau mới
trông ra cánh đồng hắt hiu vắng vẻ, phải là “chiều chiều” khi cơm nước xong xuôi thì
người con gái mới có thời gian để nhớ về quê mẹ. Sự lặp đi lặp lại của thời gian cũng
chính là sự lặp lại một hành động (ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ) của một tâm
trạng. Nghĩ về quê hương là nghĩ về mẹ, bóng hình mẹ đã tạc vào hình bóng quê
hương. Nhân vật trữ tình trong câu ca dao không được giới thiệu chi tiết cụ thể.
Nhưng ta vẫn thấy hiện lên hình ảnh cô gái xa quê, nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ gia đình...
(đi lấy chồng xa?). Chắc là nhớ lắm, nhớ da diết nên cứ chiều chiều và chiều nào cũng
vậy cô ra ngõ sau ngậm ngùi ngóng về quê mẹ.
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau”
3
- Cô gái đứng ở “ngõ sau” vào buổi “chiều chiều” trông ngóng về quê hương – nơi có
những ngày tháng hạnh phúc êm đềm bên cha mẹ, có những bậc sinh thành đang cần
người phụng dưỡng, còn mình thì phải làm dâu xứ người mà lòng thương nhớ, đau
đớn, xót xa “ruột đau chín chiều”.
Càng trông về quê mẹ càng lẻ loi, cô đơn nơi quê người, nỗi thương nhớ da diết
không nguôi:
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Quê mẹ sau luỹ tre xanh. Nơi cô gái sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của
gia đình, làng xóm. Biết bao kỉ niệm buồn vui cùng gia đình bè bạn. Nơi mà chiều
chiều chăn trâu cắt cỏ, có dòng sông nhỏ uốn quanh, có cánh đồng cò bay thẳng cánh,
có bà con chất phác hiền lành lam lũ sớm hôm. Nơi ấy mẹ cha tần tảo sớm khuya nuôi
con khôn lớn. Nơi ấy, cô gái được yêu chiều trong vòng tay của mẹ. Vậy mà giờ đây,
nơi quê người đất khách lòng cô lại càng xót xa, thương nhớ. Giờ này sau luỹ tre xanh
mẹ già, với mái tóc bạc phơ đang tựa cửa ngóng đứa con xa.
Bốn tiếng “ruột đau chín chiều” diễn tả nỗi đau nhiều bề, quặn thắt, âm ỉ, dai dẳng
làm héo mòn tâm hồn con người. Buổi chiều nào cô gái cũng nhớ về quê mẹ, trông
hướng nào cũng thấy tê tái, xót xa. Càng nhớ, người con lại càng thương, nỗi buồn cứ
như vậy tăng lên gấp bội. Dường như nỗi nhớ ấy, sự cô đơn ấy không có giới hạn.
- Đây cũng có thể là niềm cay đắng, xót xa cho thân phận làm dâu của cô gái dưới
thời phong kiến cũ (bị nhà chồng hắt hủi, coi thường, nhiều nỗi tủi hờn mà không có
ai chia sẻ). Hoặc cũng có thể là nỗi xót xa của người con gái lấy chồng xa quê không
được phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già.
Bài ca dao là tình cảm mẹ con, tình cảm quê hương và gia đình sâu sắc trong tâm
hồn mỗi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn sâu nặng của
người con gái xa quê đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình sâu lắng, lời thơ êm ái nhẹ
nhàng gợi lên trong lòng người đọc bao liên tưởng về tình cảm mẹ con, gia đình,
những kỉ niệm yêu dấu tuổi thơ.
Bài 2: Đọc bài ca dao sau và trình bày suy nghĩ của em:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,
Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này ?
Gợi ý làm bài:
4
Bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp của một địa danh được coi là “biểu tượng thu nhỏ” của đất
nước Việt Nam: cảnh hồ Gươm với các nét đặc sắc mang trong mình âm vang lịch sử
và văn hóa.
Mở đầu bài ca là hai chữ “rủ nhau”. “Rủ nhau” là gọi nhau cùng đi, đông vui hồ hởi.
Ca dao có nhiều bài sử dụng hai tiếng “rủ nhau”'. “Rủ nhau ra tắm hồ sen…”, “Rủ
nhau xuống bể mò cua..”, “Rủ nhau lên núi đốt than…”, “Rủ nhau chơi khắp Long
Thành..”. Dù cuộc đời còn nhiều mưa nắng, nhưng dân quê vẫn “rủ nhau' lên đường,
đi xem hội, đi kiếm sống, ở trong bài ca dao này là rủ nhau đi tham quan Hà Nội. Chữ
“xem” được điệp lại ba lần, vừa gợi tả niềm khao khát say mê, vừa mở lòng đón chờ
vẫy gọi:
“Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn”
Kiếm Hồ là hồ Hoàn Kiếm, nơi Lê Lợi trả kiếm báu “Thuận Thiên” cho Rùa Vàng.
Một cảnh đẹp, một vùng đất thiêng của đất “Rồng bay lên”. Cầu Thê Húc là cầu đón
ánh sáng, biểu tượng rất đẹp nói lên niềm tự hào về mọi tinh hoa của đất trời, Tổ
quốc, của dân tộc hội tụ về Thăng Long, Hà Nội. Chùa Ngọc Sơn còn gọi là đền Ngọc
Sơn là một nét đẹp cổ kính của Hồ Gươm.
Hai câu đầu bài ca mở ra trong tâm hồn chúng ta nhiều liên tưởng, cùng nhau khám
phá ra bao kì tích, huyền thoại của Hồ Hoàn Kiếm mà thời gian không thể làm phai
mờ.
Không gian nghệ thuật được mở rộng, được đón chào. Càng “xem” càng thấy lạ và
rất thú vị:
“Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này ?”
Hai chữ “chưa mòn” gợi lên trong lòng người đọc nhiều suy tưởng. Đài Nghiên Tháp
Bút là biểu tượng cho nền văn hiến lâu đời và rực rỡ của Đại Việt. Nó thể hiện rất đẹp
đạo học và truyền thống hiếu học của nhân dân ta. Hai chữ “chưa mòn” khẳng định sự
bền vững, sự trường tồn của nền văn hiến nước ta. Qua hàng nghìn năm, qua bao
thăng trầm của lịch sử, bao bể dâu Tháp Bút Đài Nghiên vẫn “chưa mòn”, vẫn “trơ
gan cùng tuế nguyệt”. Cũng như đất nước ta, thủ đô ta, nền văn hóa Việt Nam ta ngày
một trở nên giàu đẹp. Hai chữ “chưa mòn” đã kín đáo gửi gắm niềm tự hào và tình
yêu sông núi của nhân dân.Câu kết là một câu hỏi tu từ rất tự nhiên, âm điệu nhắn
nhủ, tâm tình. Đây là dòng thơ xúc động, sâu lắng nhất trong bài ca dao, tác động trực
tiếp vào tình cảm của người đọc, người nghe.“Hỏi ai” là phiếm chỉ, gợi ra nhiều bâng
khuâng, man mác. “Ai” là ông cha, tổ tiên. “Ai” là nhân dân vĩ đại, những con người
5
vô danh. Câu hỏi tu từ để khẳng định và nhắc nhở công lao xây dựng non nước của
ông cha ta qua nhiều thế hệ. Cảnh Kiếm Hồ và nhiều cảnh trí khác của Hồ Gươm
trong bài ca dao được nâng lên tầm non nước, tượng trưng cho non nước.
Câu hỏi còn hàm ý nhắc nhở các thế hệ con cháu phải biết giữ gìn, xây dựng non
nước cho xứng đấng với truyền thống cha ông.
Bài ca dao ngắn gọn mà chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa: vừa ngợi ca vẻ đẹp thiên
nhiên, vẻ đẹp văn hóa của đất nước, vừa thể hiện lòng biết ơn tổ tiên ông cha, biết ơn
nhân dân một cách xúc động.
4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
4.1. Tổng kết:
- GV khái quát lại kiến thức.
4.2. Hướng dẫn tự học:
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
Buổi 2: CẢM THỤ CA DAO (Tiếp theo)
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức:
- HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
văn học dân gian.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
6
Bài 3:
Trình bày cảm nhận của em về bài ca dao sau:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Gợi ý làm bài:
Bài ca dao là cảnh sáng sớm mùa thu nơi kinh thành Thăng Long thuở trước. Mỗi câu
là một cảnh đẹp được chấm phá qua ngòi bút đặc sắc của các tác giả dân gian, tả ít mà
gợi nhiều nhằm ca ngợi cảnh đẹp quê hương. Cái hồn của cảnh vật mang màu sắc cổ
điển.
Cảnh vật Hồ Tây được miêu tả thật nên thơ: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm
thanh hài hòa, sống động. “Gió đưa cành trúc la đà”
Chữ “đưa” gợi làn gió thu thổi nhè nhẹ làm đung đưa những cành trúc rậm rạp, lá
sum suê đang “la đà” sát mặt đất. Cảnh mùa thu thật đẹp. Cành trúc được làn gió thu
trong trẻo, mát lành vuốt ve êm dịu, cùng với gió cành trúc khẽ lay động bay cùng
chiều gió.”Gió đưa cành trúc la đà”. Câu thơ có màu xanh của trúc, khe khẽ của gió,
và đương nhiên khí thu, tiết thu, bầu trời khoáng đạt, những cánh diều vi vu trên
không, đằng sau những cành trúc la đà là tiếng oanh vàng thánh thót.
-Nếu câu thứ nhất, ta chỉ cảm nhận vẻ đẹp của buổi sáng mùa thu bằng thị giác thì ở
câu thơ thứ hai ta lại cảm nhận bằng âm thanh. Đó là tiếng chuông chùa làng Trấn Vũ
êm êm gây không khí rộn ràng náo động, là tiếng gà tàn canh báo sáng từ làng Thọ
Xương vọng tới. Tiếng chuông ngân vang hoà cùng tiếng gà gáy le te. Âm thanh như
tan ra hoà cùng đất trời sương khói mùa thu. Trong làn sương khói, ánh sáng thu bao
phủ tràn khắp mọi nẻo, nhịp chuông vang vọng cùng gà gáy như làm cho mọi vật
càng mơ màng thơ mộng hơn. Cuộc sống đang say tràn trong niềm vui háo hức. Lấy
xa để nói gần, lấy động để tả tĩnh, nhà thơ dân gian đã thể hiện được cuộc sống êm
đềm, yên vui, thanh bình nơi Kinh thành xưa.
- Câu thứ ba là bức tranh sương khói mùa thu : Khói toả mịt mù được đảo lại “mịt mù
khói toả”. Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ làm tăng sự huyền ảo lung linh của cảnh vật,
của cuộc sống. Mặt đất một màu trắng mờ, do màn sương bao phủ. Nhìn cận cảnh hay
viễn cảnh đều có cảm giác như mặt đất đang chìm trong khói phủ. Cuộc sống yên
bình tĩnh lặng, vũ trụ đang quay, thời gian trôi đi, trời trở về sáng.
- Câu thơ thứ tư: “Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
7
Tiếng chày đều tay từ phường Yên Thái ngân vang dồn dập. Nhịp chày chính là nhịp
đập của cuộc sống lao động, là sức sống mạnh mẽ của kinh đô này. Bình minh ửng
hồng phía đằng Đông xua tan làn sương khói. Hồ Tây mênh mông phẳng lặng như
chiếc gương khổng lồ sáng dần lên in hình phố cổ. Hình ảnh “mặt gương Tây Hồ” là
hình ảnh trung tâm, một tứ thơ đẹp tỏa sáng toàn bài ca dao.
-Bài ca dao tả cảnh đẹp kinh thành Thăng Long, nhưng thông qua miêu tả cảnh, ẩn
chứa tình cảm tự hào về quê hương đất nước. Quê hương đang ngày ngày thay da đổi
thịt, cảnh tình thấm vào nhau rung động mãi trong hồn ta. Tâm hồn tác giả thật say
sưa mới có những vần thơ hay đến vậy. Bài ca dao để lại trong ta ấn tượng tuyệt vời
về Thăng Long. Nó giúp ta yêu hơn tự hào hơn, về kinh đô ngàn năm văn hiến.
Bài 4: Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong bài ca dao sau:
Trong đầm gì đẹp bằng sen?
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Gợi ý làm bài:
a. Một số biện pháp nghệ thuật:
- Câu hỏi tu từ: (câu 1)
- Phép liệt kê: (câu 2 và câu 3)
- Đảo trật tự cú pháp và điệp ngữ (câu 2 và câu 3)
- Ẩn dụ: hình ảnh hoa sen trong đầm lầy là hình ảnh ẩn dụ cho phẩm chất của con
người.
b. Tác dụng:
Câu mở đầu: “Trong đầm gì đẹp bằng sen?
Bằng một câu hỏi tu từ khéo léo, lôi cuốn người nghe, đặt họ vào vị trí và tâm thế
thưởng thức cùng với mình, tác giả đã khẳng định: hoa sen đẹp nhất so với tất cả các
loài hoa nở trong đầm.
Câu thứ hai: “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”.
Để chứng minh cho lời khẳng định ở trên là có cơ sở, tác giả tuần tự miêu tả vẻ đẹp
của cây sen, từ lá xanh qua bông trắng đến nhị vàng. Trên nền xanh của lá, nổi bật
màu trắng tinh khiết của hoa; giữa màu trắng của hoa lại chen chút sắc vàng của nhị.
Từ “lại” được dùng rất tài tình, có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng màu sắc của hoa
sen, từ “chen” nói lên sự kết hợp hài hoà giữa hoa và nhị, tất cả như cùng đua đẹp,
đua tươi. Cảnh đầm sen giống như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp hiện lên dưới
ngòi bút chấm phá thần tinh.
8
Câu thứ ba: “Nhị vàng bông trắng lá xanh”
Câu này có vị trí đặc biệt trong toàn bài vì nó là câu chuyển (chuyển vần, chuyển
nhịp, chuyển ý) để chuẩn bị cho câu kết.
Từ câu thứ hai sang câu thứ ba có sự đột ngột, khác thường trong cách gieo vần {ang,
anh) nhưng nhiều người không để ý. Sở dĩ như vậy là do sự chuyển vần và sự thay đổi
trật tự các từ ngữ và hình ảnh đã được thực hiện một cách khéo léo, tự nhiên, hợp lí vể
cả nội dung và hình thức.
Hai chữ “nhị vàng” ở cuối câu thứ hai được lặp lại ở đầu câu thứ ba (điệp ngữ vòng)
tạo nên tính liên tục trong tư duy, cảm xúc và sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung với
hình thức trong toàn bài.
Hai câu 2 và 3, tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp liệt kê và đảo trật tự từ: tả thực
đến từng chỉ tiết: “lá xanh, bông trắng, nhị vàng” (tả đi); rồi tả lại: “Nhị vàng, bông
trắng, lá xanh”. Tả từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới. Dường như người tả đang cố
chứng minh bằng được vẻ đẹp của sen: đẹp từ sắc lá đến màu hoa, màu nhị. Sau đó lại
nhấn mạnh thêm bằng cách đảo ngược: đẹp từ màu nhị đến màu hoa, sắc lá. Nghệ
thuật miêu tả ở đây mới đọc qua tưởng chừng đơn giản, song thực sự đã đạt tới trình
độ điêu luyện, tinh vi. Nghệ thuật ấy đã tôn vinh hoa sen lên hàng hoa quý, xứng đáng
tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính.
Câu thứ tư: “Gần bùn mà chẳng hồi tanh mùi bùn”.
Dù mang tính chất ẩn dụ tượng trưng nhưng trước hết vẫn là tả thực về môi trường
sống của cây sen. Sen thường sống ở trong ao, trong đầm lầy, nơi có nhiều bùn. Ấy
vậy mà hoa sen lại rất thơm, một mùi thơm thanh khiết lạ lùng! Có thể coi đây là cái
nút của toàn bài ca dao. Thiếu câu ca dao này, hình tượng của hoa sen vẫn tồn tại
nhưng không có linh hồn và ý nghĩa. Nếu câu ca dao mở đầu là luận để mang ý nghĩa
khái quát về hình tượng của hoa sen thì đến câu kết của bài ca dao, hình tượng bông
sen trong tự nhiên đã chuyển sang hình tượng bông sen trong cuộc đời một cách uyển
chuyển, nhẹ nhàng không có một sự gượng ép nào. Do đó mà nghĩa bóng của hoa sen
cũng mở rộng không giới hạn. Chính vì vậy mà tính chất tượng trưng, ẩn dụ của hình
tượng thơ nổi lên, lấn át hình ảnh thực. Nó tựa hồ như một cánh cửa kì diệu, khép
nghĩa đen lại và mở nghĩa bóng ra một cách thần tình. Và thế là trong phút chốc, sen
hóa thành người, bùn trong đầm (nghĩa đen) biến thành bùn trong cuộc đời (nghĩa
bóng). Rồi cả hình ảnh cái đầm cùng mùi hôi tanh của bùn cũng được coi là ẩn dụ
tượng trưng vì nó được hiểu theo nghĩa bóng với những mức độ rộng hẹp, xa gần
khác nhau tuỳ theo trình độ mỗi người hoa sen. Có một cái gì đó rất gần gũi, đổng
điệu giữa phẩm chất của hoa sen và phẩm chất của người lao động. Mùi bùn gợi liên
9
tưởng đến những cái xấu xa, thấp hèn của mặt trái xã hội phong kiến suy tàn cùng với
lũ tham quan ô lại vô liêm sỉ. Còn vẻ đẹp trong trẻo và hương thơm ngát của hoa sen
tượng trưng cho phẩm chất trong sạch, thanh cao, không chịu khuất phục trước hoàn
cảnh của con người Việt Nam…..
4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
4.1. Tổng kết:
- GV khái quát lại kiến thức.
4.2. Hướng dẫn tự học:
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
--------------------------------------------------------Buổi 3: CẢM THỤ CA DAO (Tiếp theo)
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức: HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của
các tác phẩm văn học dân gian.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
Bài tập 5: Nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau:
“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
“Thân em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.”
10
Gợi ý làm bài:
Bài ca dao này có hai cái đẹp: cái đẹp của cánh đồng và cái đẹp của cô gái thăm đồng.
Cả hai cái đẹp đều được miêu tả rất hay. Cái hay ở đây là cái hay riêng của bài ca dao
này, không thấy có ở bất kỳ một bài ca dao nào khác.
Ca dao thường được viết bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài ca dao này, nhà thơ
dân gian đã viết bằng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ. Phân tích
bài ca dao này, nhiều người thường chia ra hai phần: phần trên (hai câu đầu) là hình
ảnh cánh đồng; phần dưới (hai câu cuối) là hình ảnh cô gái thăm đồng. Thực ra không
hoàn toàn như vậy. Bởi vì, ngay từ hai câu đầu, hình ảnh cô gái thăm đồng đã xuất
hiện hết sức rõ ràng và sống động với tất cả dáng điệu của một con người năng nổ,
tích cực. Cô thôn nữ không làm chuyện văn chương thơ phú như ai, mà cô chỉ nói lên
những rung động, những cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên của lòng mình khi ngắm nhìn
cánh đồng lúa thân yêu của làng quê. Trước mắt là cánh đồng lúa “bát ngát mênh
mông… mênh mông bát ngát”, thắng cánh cò bay, càng trông, càng “ngó”, càng thích
thú tự hào. Đứng “bên ni” rồi lại đứng “bên tê” để ngắm nhìn, quan sát cánh đồng từ
nhiều phía, dường như cô muốn thâu tóm, nắm bắt, cảm nhận cho thật rõ tất cả cái
mênh mông bát ngát của đồng lúa quê hương. Câu ca dài mãi ra cũng với chân trời,
với sóng lúa:
“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
“Ngó” gần nghĩa với với nhìn, trông, ngắm nghía… Từ “ngó” rất dân dã trong văn
cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn không chán mắt, một cách quan sát kỹ
càng. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó
bên ni đồng”, dù ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước
sự “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” của cánh đồng thân thuộc. Hai tiếng
“bên ni” và “bên tê” vốn là tiếng nói của bà con Thanh, Nghệ dùng để chỉ vị trí “bên
này”, “bên kia”, được đưa vào bài ca thể hiện đức tính mộc mạc, chất phác của cô
thôn nữ, của một miền quê. Nghệ thuật đảo từ ngữ: “mênh mông bát ngát // bát ngát
mênh mông” góp phần đặc tả cánh đồng lúa rộng bao la, tưởng như không nhìn thấy
bến bờ. Có yêu quê hương tha thiết mới có cái nhìn đẹp, cách nói hay như thế!
Cả hai câu đầu đều không có chủ ngữ, khiến cho người nghe, người đọc rất dễ
đồng cảm với cô gái, tưởng chừng như đang cùng cô gái đi thăm đồng, đang cùng cô
“đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng…” và ngược lại. Nhờ vậy mà cái cảm giác về sự
mênh mông, bát ngát của cánh đồng cũng lan truyền sang ta một cách tự nhiên và ta
cảm thấy như chính mình đã trực tiếp cảm nhận, rút ra và nói lên điều đó.
11
Nếu như ở hai câu đầu, cô gái phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ cánh đồng lúa
quê hương để chiêm ngưỡng sự “bát ngát mênh mông” của nó, thì ở hai câu cuối, cô
gái lại tập trung ngắm nhìn, quan sát và đặc tả riêng một “chẽn lúa đòng đòng” và liên
hệ so sánh với bản thân mình một cách rất hồn nhiên”
“Thân em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.”
“Chẽn lúa” còn gọi là nhánh lúa, một bộ phận của khóm lúa. “Chẽn lúa đòng đòng”
nói lên sự trưởng thành, sinh sôi nẩy nở, hứa hẹn một mùa sây hạt, trĩu bông. Hình
ảnh so sánh “Thân em như “chẽn lúa đòng đòng” gợi tả một vẻ đẹp duyên dáng, xinh
tươi, một sức lực căng tràn hứa hẹn. Đây là một hình ảnh trẻ trung, khoẻ khoắn, hồn
nhiên nói về cô gái Việt Nam trong ca dao, dân ca. “Phất phơ” là nhẹ nhàng đung
đưa, uốn lượn... “Chẽn lúa đòng đòng” phất phơ nhẹ bay trước làn gió trên đồng nội
một buổi sớm mai hồng tuyệt đẹp. “Em” sung sướng hân hoan thấy hồn mình phơi
phới niềm vui trước một bình minh đẹp. Có thể dùng hình ảnh “tia nắng”, “làn nắng”
mà ý câu ca dao vẫn không thay đổi. Nhưng “ngọn nắng” hay hơn, sát nghĩa hơn, và
đó là làn nắng, tia nắng đầu tiên của một ngày nắng đẹp, ánh hồng rạng đông đang
nhuốm hồng ngọn lúa đòng đòng xanh ngào ngạt. Hai câu cuối bài ca hội tụ bao vẻ
đẹp nói lên một tình quê vơi đầy. Vẻ đẹp màu xanh của lúa, mà hồng của nắng ban
mai,… Vẻ đẹp duyên dáng, xinh tươi của cô thôn nữ và vẻ đẹp căng tràn nhựa sống
của “chẽn lúa đòng đòng” trên cánh đồng bát ngát mênh mông. Qua đó, ta cảm nhận
được vẻ đẹp của ngôn từ chính xác, hình tượng và biểu cảm. Giá trị thẩm mĩ của bài
ca là ở cách nói mộc mạc, bình dị mà hồn nhiên, đáng yêu. Hai tiếng “thân em” gợi ra
trong lòng người thưởng thức ca dao, dân ca một trường liên tưởng về hình ảnh cô gái
làng quê: trinh trắng, dịu dàng, cần mẫn, thuỷ chung… những nàng “môi cắn chỉ quết
trầu”, rất đáng yêu, đáng nhớ? Đọc bài ca dao này có người tự hỏi: buổi sớm mai
hồng của mùa xuân hay mùa thu? Mùa xuân mới có “ngọn nắng hồng ban mai” đẹp
rực rỡ như thế. Vả lại đó cô thiếu nữ thì phải có mưa xuân. Người đọc xưa nay vẫn
cảm nhận là cô thôn nữ vác cuốc ra thăm đồng một sáng sớm mùa xuân đẹp.
Tóm lại, bài ca dao nói về mùa xuân, đồng xanh và cô thôn nữ. Cảnh và người
rất thân thuộc, đáng yêu. Cảnh vừa có diện vừa có điểm, câu ca đồng hiện không gian
nghệ thuật và thời gian nghệ thuật “đơn sơ mà lộng lẫy”. Thơ lục bát biến thể sống
động, lối so sánh ví von đậm đà, ý vị. “Thơ ca là sự chắt lọc tâm hồn, là tình yêu ta
mơ ước…”. Đọc bài ca dao “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng…”, ta cảm thấy như
thế. Hương quê và tình quê làm vương vấn tâm hồn ta, đem đến cho ta “tình yêu và
mơ ước”…
12
Bài tập 6: Trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của bài ca dao sau:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.”
Gợi ý làm bài:
HS viết thành bài văn cảm nhận đảm bảo các ý cơ bản sau:
- Bài ca dao giản dị, thể hiện sâu sắc, thấm thía tình yêu quê hương đất nước gắn bó
hài hòa với tình yêu lứa đôi của chàng trai.
- Thể thơ lục bát truyền thống kết hợp với nhịp thơ chẵn, giọng thơ tâm tình sâu lắng,
rất phù hợp để diễn tả tình cảm nhớ nhung, bịn rịn.
- Điệp từ “nhớ” điệp lại tới 5 lần diễn tả tình yêu tha thiết của chàng trai với cảnh vật
và con người quê hương. Cách diễn đạt nỗi nhớ cũng thật đặc biệt: từ xa đến gần, từ
chung đến riêng, từ phiếm chỉ đến xác định.
- Hệ thống hình ảnh thơ vừa giản dị vừa gợi cảm được sắp xếp theo trình tự từ chung
đến riêng làm nổi bật sự thống nhất giữa tình yêu quê hương và tình cảm đôi lứa.
- Từ “quê nhà” mang tính khát quát, gợi sự thân thương, gần gũi. Đó có thể là cây đa,
bến nước, sân đình gắn với bao kí ức tuổi thơ.
- “Canh rau muống”, “cà dầm tương” gợi những món ăn bình dị nhưng chứa đựng nét
đẹp truyền thống của dân tộc. Ai đi xa mà không them, không nhớ.
- Các hình ảnh “Dãi nắng dầm sương” và “tát nước bên đường hôm nao diễn tả nỗi
nhớ con người quê hương tảo tần dãi dầu sương gió, rất đáng yêu, rất đáng trân trọng.
- Tuy nhiên, các hình ảnh này còn được đặt trong mối liên hệ với cách xưng hô độc
đáo: “Anh”, “ai” đã giúp nhân vật trữ tình liên tưởng từ nỗi nhớ quê hương đến nỗi
nhớ người yêu thật tự nhiên, hợp lí. Nếu ở hai câu đầu, nỗi nhớ còn chung chung thì
hai câu sau, đối tượng của nỗi nhớ trở nên cụ thể hơn. Đại từ “ai” phiếm chỉ nhưng rất
xác định. Qua cách xưng hô tình tứ này thì có lẽ đối tượng của nỗi nhớ chỉ có thể là
người bạn gái nơi quê nhà. Nhất là cụm từ “hôm nao”. “Hôm nao” là cái hôm mà cả
hai người đều không thể nào quên được. Nỗi nhớ trở nên thật cụ thể và đáng yêu biết
nhường nào.
4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
4.1. Tổng kết: GV khái quát lại kiến thức.
4.2. Hướng dẫn tự học: Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
13
Buổi 4: CẢM THỤ THƠ VĂN TRỮ TÌNH
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức: HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của
các tác phẩm văn thơ trữ tình.
2. Kĩ năng:
- HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
- Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
3. Phẩm chất, thái độ:
- Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các tác phẩm thơ trữ
tình.
- Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
II. Chuẩn bị
1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
III. Tiến trình
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
3. Bài dạy:
I. Một số lưu ý khi làm bài văn cảm nhận tác phẩm trữ tình:
- Nắm vững hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời và sự nghiệp của từng tác giả. Bởi vì có
những tác phẩm : “Trữ tình thế sự ”, đó là những tác phẩm nghi lại những xúc động,
những cảm nghĩ về cuộc đời về thế thái nhân tình. Chính thơ “ trữ tình thế sự ” gợi
cho người đọc đi sâu suy nghĩ về thực trạng xã hội. Cả hai tác giả Nguyễn Trãi Nguyễn Khuyến đều sáng tác rất nhiều tác phẩm khi cáo quan về quê ở ẩn . Phải
chăng từ những tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến thì người đọc hiểu được
suy tư về cuộc đời của hai tác giả đó.
- Hiểu rõ ngôn ngữ thơ trữ tình giàu hình ảnh:
Hình ảnh trong thơ không chỉ là hình ảnh của đời sống hiện thực mà còn giàu
màu sắc tưởng tượng bởi khi cảm xúc mãnh liệt thì trí tưởng tượng có khả năng bay
xa ngoài “ vạn dặm ”.
-Mục đích chính của hình ảnh trong thơ trữ tình là sự khách thể hoá những rung cảm
nội tâm, bởi thế giới tinh thần và cảm xúc con người vốn vô hình nên nhất thiết phải
dựa vào những điểm tưạ tạo hình cụ thể để được hữu hình hoá.
14
- Hiểu rõ ngôn ngữ thơ trữ tình giàu nhạc tính . Bởi thơ phản ánh cuộc sống qua
những rung động của tình cảm . Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện
bằng từ ngữ mà bằng cả âm thanh nhiịp điệu của từ ngữ ấy . Nhạc tính trong thơ thể
hiện ở sự cân đối tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ.
Nhạc tính còn thể hiện ở sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ. Đó là sự thay đổi âm
thanh cao thấp khác nhau. Chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà
nghĩa không thể nói hết:
“ Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát ” .
(Tố Hữu)
- Đặc điểm nổi bật của thơ trữ tình là rất hàm xúc điều đó đòi hỏi người cảm thụ
phải tìm hiểu từ lớp ngữ nghĩa, lớp hình ảnh, lớp âm thanh, nhịp điệu để tìm hiểu...
 







Các ý kiến mới nhất