Calendar and Time

Thời tiết

Hà Nội

Huế

TP HCM

TP Vinh

Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    IMG20160328144112.jpg HA_TRUONG.flv ADAI_XUYEN.mp3 Hinh0005.jpg Hinh0004.jpg Hinh0003.jpg Hinh0002.jpg Hinh0001.jpg Hinh0000.jpg DSC_00271.jpg DSC_0027.jpg DSC_0025.jpg DSC_00241.jpg DSC_0023.jpg DSC_00221.jpg DSC_0021.jpg DSC_0020.jpg DSC_0019.jpg 1781898_221659148023125_1264208278_n.jpg Trangsucturac1_2.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Đọc báo

    Uitshare.com

    Uitshare.com

    Cuối Cùng

    Đề khảo sát chất lượng

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Thanh Mai (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:07' 01-10-2023
    Dung lượng: 277.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Chuyên đề 1
    Giới thiệu cách tiếp cận và cảm thụ
    một số thể loại tác phẩm văn học trữ tình.
    Buổi 1: CẢM THỤ CA DAO
    I. MỤC TIÊU :
    1. Kiến thức:
    - HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
    văn học dân gian.
    2. Kĩ năng:
    - HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
    - Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
    phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
    3. Phẩm chất, thái độ:
    - Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
    yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
    - Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
    hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
    II. Chuẩn bị
    1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
    2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
    III. Tiến trình
    1. Ổn định tổ chức.
    2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
    3. Bài dạy:
    I. Những điều cần lưu ý khi làm bài cảm thụ văn học.

    - Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm nhưng tác phẩm trữ tình
    lại thể hiện tình cảm theo cách riêng .
    Từ những câu ca dao xưa tới những bài thơ đương đại, dấu hiệu chung của tác
    phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp của thế giới chủ quan của con người . Đó là
    cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của chính tác giả. Và biểu hiện trực tiếp những cảm xúc,
    suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình.
    Muốn hiểu được một tác phẩm trữ tình thì chúng ta cần hiểu hai lớp nội dung :
    1

    - Nội dung hiện thực đời sống.
    - Nội dung của những ý nghĩ, cảm xúc, suy tư ẩn sau hiện thực đời sống.
    Cụ thể hơn đó chính là hiểu: cảnh và tình trong mỗi tác phẩm .
    1. Với ca dao:
    - Phải xác định được ca dao chính là những lời nói tâm tình, là những bài ca bắt
    nguồn từ tình cảm trong mối quan hệ của những người trong cuộc sống hàng ngày:
    tình cảm với cha mẹ, tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng, tình cảm bạn bè ... hiểu
    được điều đó sẽ giúp người đọc và học sinh ý thức sâu sắc hơn về tình cảm thông
    thường hàng ngày .
    - Phải hiểu tác phẩm ca dao trữ tình thường tập trung vào những điều sâu kín tinh vi
    và tế nhị của con người nên không phải lúc nào ca dao cũng giãi bầy trực tiếp mà phải
    tìm đường đến sự xa sôi, nói vòng, hàm ẩn đa nghĩa. Chính điều ấy đòi hỏi người cảm
    thụ phải nắm được những biện pháp nghệ thuật mà ca dao trữ tình thường sử dụng
    như : ẩn dụ so sánh ví von :
    Ví dụ :
    “ Bây giờ mận mới hỏi đào
    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? ”
    - Phải hiểu rõ hai lớp nội dung hiện thực - cảm xúc suy tư . “.”
    Ví dụ trong bài ca dao
    “ Trong đầm gì đẹp bằng sen
    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
    Nhị vàng bông trắng lá xanh
    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” .
    Bức tranh đời sống trong bài ca dao được tái hiện lên rất cụ thể, sinh động :
    Một vẻ đẹp “ Không gì đẹp bằng ” của hoa sen trong đầm. Đó là vẻ đẹp rực rỡ,
    đầy màu sắc và hương thơm, một vẻ đẹp vươn lên giữa bùn lầy mà vẫn vô cùng thanh
    khiết trắng trong.
    Vẻ đẹp của loài hoa này đã được tác giả khảng định bằng phương thức so sánh
    tuyệt đối :
    “ Trong đầm gì đẹp bằng sen ”
    Tiếp đến là mô tả cụ thể từng bộ phận của cây sen để chứng minh vẻ đẹp của nó
    “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng ” .

    2

    Cây sen , hoa sen hiện lên với dáng vẻ, màu sắc, hương thơm . Sự đối sánh bất
    ngờ trong liên quan với hoàn cảnh càng khảng định phẩm chất của loài sen, một
    phẩm chất tốt đẹp bên trong tương ứng với vẻ bên ngoài .
    “ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” .
    Không chỉ dừng lại ở đó, bài ca giao còn là lời ngợi ca, khảng định, tự hào về
    phẩm chất không chỉ của loài hoa đẹp đẽ , giản dị , gần gũi với người lao động mà còn
    của những con người có phẩm chất thanh cao trong sạch , những con người không bao
    giờ bị tha hoá bởi hoàn cảnh.
    II. Luyện tập:
    Bài 1: Nêu cảm nhận sâu sắc của em về câu ca dao sau:
    Chiều chiều ra đứng ngõ sau
    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
    Gợi ý làm bài:
    HS trình bày được một số ý cơ bản sau:
    Câu ca dao là tâm trạng của một người con gái lấy chồng xa, nhớ mẹ, nhớ nhà, nhớ
    quê hương.
    - Mở đầu bằng mô típ quen thuộc: “chiều chiều” là giai diệu nhè nhẹ, buồn thương.
    Điệu tâm hồn biểu hiện trong câu ca dao vô cùng đặc sắc, nó quyện vào tâm hồn
    người đọc, người nghe.
    Câu ca dao thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính không gian (ngõ
    sau, quê mẹ). Buổi chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống, ngày sắp tàn vũ trụ sắp đi
    vào cõi hư vô. Đây là những khoảng thời gian gợi nhớ, gợi sầu cho những kẻ tha
    hương.
    Thời gian cứ lặp đi lặp lại “ngõ sau” chứ không phải là ngõ trước? Ngõ sau mới
    trông ra cánh đồng hắt hiu vắng vẻ, phải là “chiều chiều” khi cơm nước xong xuôi thì
    người con gái mới có thời gian để nhớ về quê mẹ. Sự lặp đi lặp lại của thời gian cũng
    chính là sự lặp lại một hành động (ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ) của một tâm
    trạng. Nghĩ về quê hương là nghĩ về mẹ, bóng hình mẹ đã tạc vào hình bóng quê
    hương. Nhân vật trữ tình trong câu ca dao không được giới thiệu chi tiết cụ thể.
    Nhưng ta vẫn thấy hiện lên hình ảnh cô gái xa quê, nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ gia đình...
    (đi lấy chồng xa?). Chắc là nhớ lắm, nhớ da diết nên cứ chiều chiều và chiều nào cũng
    vậy cô ra ngõ sau ngậm ngùi ngóng về quê mẹ.
    “Chiều chiều ra đứng ngõ sau”
    3

    - Cô gái đứng ở “ngõ sau” vào buổi “chiều chiều” trông ngóng về quê hương – nơi có
    những ngày tháng hạnh phúc êm đềm bên cha mẹ, có những bậc sinh thành đang cần
    người phụng dưỡng, còn mình thì phải làm dâu xứ người mà lòng thương nhớ, đau
    đớn, xót xa “ruột đau chín chiều”.
    Càng trông về quê mẹ càng lẻ loi, cô đơn nơi quê người, nỗi thương nhớ da diết
    không nguôi:
    Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
    Quê mẹ sau luỹ tre xanh. Nơi cô gái sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của
    gia đình, làng xóm. Biết bao kỉ niệm buồn vui cùng gia đình bè bạn. Nơi mà chiều
    chiều chăn trâu cắt cỏ, có dòng sông nhỏ uốn quanh, có cánh đồng cò bay thẳng cánh,
    có bà con chất phác hiền lành lam lũ sớm hôm. Nơi ấy mẹ cha tần tảo sớm khuya nuôi
    con khôn lớn. Nơi ấy, cô gái được yêu chiều trong vòng tay của mẹ. Vậy mà giờ đây,
    nơi quê người đất khách lòng cô lại càng xót xa, thương nhớ. Giờ này sau luỹ tre xanh
    mẹ già, với mái tóc bạc phơ đang tựa cửa ngóng đứa con xa.
    Bốn tiếng “ruột đau chín chiều” diễn tả nỗi đau nhiều bề, quặn thắt, âm ỉ, dai dẳng
    làm héo mòn tâm hồn con người. Buổi chiều nào cô gái cũng nhớ về quê mẹ, trông
    hướng nào cũng thấy tê tái, xót xa. Càng nhớ, người con lại càng thương, nỗi buồn cứ
    như vậy tăng lên gấp bội. Dường như nỗi nhớ ấy, sự cô đơn ấy không có giới hạn.
    - Đây cũng có thể là niềm cay đắng, xót xa cho thân phận làm dâu của cô gái dưới
    thời phong kiến cũ (bị nhà chồng hắt hủi, coi thường, nhiều nỗi tủi hờn mà không có
    ai chia sẻ). Hoặc cũng có thể là nỗi xót xa của người con gái lấy chồng xa quê không
    được phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già.
    Bài ca dao là tình cảm mẹ con, tình cảm quê hương và gia đình sâu sắc trong tâm
    hồn mỗi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn sâu nặng của
    người con gái xa quê đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình sâu lắng, lời thơ êm ái nhẹ
    nhàng gợi lên trong lòng người đọc bao liên tưởng về tình cảm mẹ con, gia đình,
    những kỉ niệm yêu dấu tuổi thơ.
    Bài 2: Đọc bài ca dao sau và trình bày suy nghĩ của em:
    Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
    Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,
    Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn,
    Hỏi ai gây dựng nên non nước này ?
    Gợi ý làm bài:

    4

    Bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp của một địa danh được coi là “biểu tượng thu nhỏ” của đất
    nước Việt Nam: cảnh hồ Gươm với các nét đặc sắc mang trong mình âm vang lịch sử
    và văn hóa.
    Mở đầu bài ca là hai chữ “rủ nhau”. “Rủ nhau” là gọi nhau cùng đi, đông vui hồ hởi.
    Ca dao có nhiều bài sử dụng hai tiếng “rủ nhau”'. “Rủ nhau ra tắm hồ sen…”, “Rủ
    nhau xuống bể mò cua..”, “Rủ nhau lên núi đốt than…”, “Rủ nhau chơi khắp Long
    Thành..”. Dù cuộc đời còn nhiều mưa nắng, nhưng dân quê vẫn “rủ nhau' lên đường,
    đi xem hội, đi kiếm sống, ở trong bài ca dao này là rủ nhau đi tham quan Hà Nội. Chữ
    “xem” được điệp lại ba lần, vừa gợi tả niềm khao khát say mê, vừa mở lòng đón chờ
    vẫy gọi:
    “Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
    Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn”
    Kiếm Hồ là hồ Hoàn Kiếm, nơi Lê Lợi trả kiếm báu “Thuận Thiên” cho Rùa Vàng.
    Một cảnh đẹp, một vùng đất thiêng của đất “Rồng bay lên”. Cầu Thê Húc là cầu đón
    ánh sáng, biểu tượng rất đẹp nói lên niềm tự hào về mọi tinh hoa của đất trời, Tổ
    quốc, của dân tộc hội tụ về Thăng Long, Hà Nội. Chùa Ngọc Sơn còn gọi là đền Ngọc
    Sơn là một nét đẹp cổ kính của Hồ Gươm.
    Hai câu đầu bài ca mở ra trong tâm hồn chúng ta nhiều liên tưởng, cùng nhau khám
    phá ra bao kì tích, huyền thoại của Hồ Hoàn Kiếm mà thời gian không thể làm phai
    mờ.
    Không gian nghệ thuật được mở rộng, được đón chào. Càng “xem” càng thấy lạ và
    rất thú vị:
    “Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn,
    Hỏi ai gây dựng nên non nước này ?”
    Hai chữ “chưa mòn” gợi lên trong lòng người đọc nhiều suy tưởng. Đài Nghiên Tháp
    Bút là biểu tượng cho nền văn hiến lâu đời và rực rỡ của Đại Việt. Nó thể hiện rất đẹp
    đạo học và truyền thống hiếu học của nhân dân ta. Hai chữ “chưa mòn” khẳng định sự
    bền vững, sự trường tồn của nền văn hiến nước ta. Qua hàng nghìn năm, qua bao
    thăng trầm của lịch sử, bao bể dâu Tháp Bút Đài Nghiên vẫn “chưa mòn”, vẫn “trơ
    gan cùng tuế nguyệt”. Cũng như đất nước ta, thủ đô ta, nền văn hóa Việt Nam ta ngày
    một trở nên giàu đẹp. Hai chữ “chưa mòn” đã kín đáo gửi gắm niềm tự hào và tình
    yêu sông núi của nhân dân.Câu kết là một câu hỏi tu từ rất tự nhiên, âm điệu nhắn
    nhủ, tâm tình. Đây là dòng thơ xúc động, sâu lắng nhất trong bài ca dao, tác động trực
    tiếp vào tình cảm của người đọc, người nghe.“Hỏi ai” là phiếm chỉ, gợi ra nhiều bâng
    khuâng, man mác. “Ai” là ông cha, tổ tiên. “Ai” là nhân dân vĩ đại, những con người
    5

    vô danh. Câu hỏi tu từ để khẳng định và nhắc nhở công lao xây dựng non nước của
    ông cha ta qua nhiều thế hệ. Cảnh Kiếm Hồ và nhiều cảnh trí khác của Hồ Gươm
    trong bài ca dao được nâng lên tầm non nước, tượng trưng cho non nước.
    Câu hỏi còn hàm ý nhắc nhở các thế hệ con cháu phải biết giữ gìn, xây dựng non
    nước cho xứng đấng với truyền thống cha ông.
    Bài ca dao ngắn gọn mà chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa: vừa ngợi ca vẻ đẹp thiên
    nhiên, vẻ đẹp văn hóa của đất nước, vừa thể hiện lòng biết ơn tổ tiên ông cha, biết ơn
    nhân dân một cách xúc động.
    4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
    4.1. Tổng kết:
    - GV khái quát lại kiến thức.
    4.2. Hướng dẫn tự học:
    - Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
    Buổi 2: CẢM THỤ CA DAO (Tiếp theo)

    I. MỤC TIÊU :
    1. Kiến thức:
    - HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
    văn học dân gian.
    2. Kĩ năng:
    - HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
    - Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
    phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
    3. Phẩm chất, thái độ:
    - Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
    yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
    - Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
    hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
    II. Chuẩn bị
    1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
    2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
    III. Tiến trình
    1. Ổn định tổ chức.
    2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
    3. Bài dạy:
    6

    Bài 3:
    Trình bày cảm nhận của em về bài ca dao sau:
    Gió đưa cành trúc la đà
    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
    Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
    Gợi ý làm bài:
    Bài ca dao là cảnh sáng sớm mùa thu nơi kinh thành Thăng Long thuở trước. Mỗi câu
    là một cảnh đẹp được chấm phá qua ngòi bút đặc sắc của các tác giả dân gian, tả ít mà
    gợi nhiều nhằm ca ngợi cảnh đẹp quê hương. Cái hồn của cảnh vật mang màu sắc cổ
    điển.
              Cảnh vật Hồ Tây được miêu tả thật nên thơ: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm
    thanh hài hòa, sống động. “Gió đưa cành trúc la đà”
    Chữ “đưa” gợi làn gió thu thổi nhè nhẹ làm đung đưa những cành trúc rậm rạp, lá
    sum suê đang “la đà” sát mặt đất. Cảnh mùa thu thật đẹp. Cành trúc được làn gió thu
    trong trẻo, mát lành vuốt ve êm dịu, cùng với gió cành trúc khẽ lay động bay cùng
    chiều gió.”Gió đưa cành trúc la đà”. Câu thơ có màu xanh của trúc, khe khẽ của gió,
    và đương nhiên khí thu, tiết thu, bầu trời khoáng đạt, những cánh diều vi vu trên
    không, đằng sau những cành trúc la đà là tiếng oanh vàng thánh thót.
    -Nếu câu thứ nhất, ta chỉ cảm nhận vẻ đẹp của buổi sáng mùa thu bằng thị giác thì ở
    câu thơ thứ hai ta lại cảm nhận bằng âm thanh. Đó là tiếng chuông chùa làng Trấn Vũ
    êm êm gây không khí rộn ràng náo động, là tiếng gà tàn canh báo sáng từ làng Thọ
    Xương vọng tới. Tiếng chuông ngân vang hoà cùng tiếng gà gáy le te. Âm thanh như
    tan ra hoà cùng đất trời sương khói mùa thu. Trong làn sương khói, ánh sáng thu bao
    phủ tràn khắp mọi nẻo, nhịp chuông vang vọng cùng gà gáy như làm cho mọi vật
    càng mơ màng thơ mộng hơn. Cuộc sống đang say tràn trong niềm vui háo hức. Lấy
    xa để nói gần, lấy động để tả tĩnh, nhà thơ dân gian đã thể hiện được cuộc sống êm
    đềm, yên vui, thanh bình nơi Kinh thành xưa.
    - Câu thứ ba là bức tranh sương khói mùa thu : Khói toả mịt mù được đảo lại “mịt mù
    khói toả”. Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ làm tăng sự huyền ảo lung linh của cảnh vật,
    của cuộc sống. Mặt đất một màu trắng mờ, do màn sương bao phủ. Nhìn cận cảnh hay
    viễn cảnh đều có cảm giác như mặt đất đang chìm trong khói phủ. Cuộc sống yên
    bình tĩnh lặng, vũ trụ đang quay, thời gian trôi đi, trời trở về sáng.
    - Câu thơ thứ tư: “Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
    7

    Tiếng chày đều tay từ phường Yên Thái ngân vang dồn dập. Nhịp chày chính là nhịp
    đập của cuộc sống lao động, là sức sống mạnh mẽ của kinh đô này. Bình minh ửng
    hồng phía đằng Đông xua tan làn sương khói. Hồ Tây mênh mông phẳng lặng như
    chiếc gương khổng lồ sáng dần lên in hình phố cổ. Hình ảnh “mặt gương Tây Hồ” là
    hình ảnh trung tâm, một tứ thơ đẹp tỏa sáng toàn bài ca dao.
    -Bài ca dao tả cảnh đẹp kinh thành Thăng Long, nhưng thông qua miêu tả cảnh, ẩn
    chứa tình cảm tự hào về quê hương đất nước. Quê hương đang ngày ngày thay da đổi
    thịt, cảnh tình thấm vào nhau rung động mãi trong hồn ta. Tâm hồn tác giả thật say
    sưa mới có những vần thơ hay đến vậy. Bài ca dao để lại trong ta ấn tượng tuyệt vời
    về Thăng Long. Nó giúp ta yêu hơn tự hào hơn, về kinh đô ngàn năm văn hiến.
    Bài 4: Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong bài ca dao sau:
    Trong đầm gì đẹp bằng sen?
    Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
    Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
    Gợi ý làm bài:
    a. Một số biện pháp nghệ thuật:
    - Câu hỏi tu từ: (câu 1)
    - Phép liệt kê: (câu 2 và câu 3)
    - Đảo trật tự cú pháp và điệp ngữ (câu 2 và câu 3)
    - Ẩn dụ: hình ảnh hoa sen trong đầm lầy là hình ảnh ẩn dụ cho phẩm chất của con
    người.
    b. Tác dụng:
    Câu mở đầu: “Trong đầm gì đẹp bằng sen?
    Bằng một câu hỏi tu từ khéo léo, lôi cuốn người nghe, đặt họ vào vị trí và tâm thế
    thưởng thức cùng với mình, tác giả đã khẳng định: hoa sen đẹp nhất so với tất cả các
    loài hoa nở trong đầm.
    Câu thứ hai: “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”.
    Để chứng minh cho lời khẳng định ở trên là có cơ sở, tác giả tuần tự miêu tả vẻ đẹp
    của cây sen, từ lá xanh qua bông trắng đến nhị vàng. Trên nền xanh của lá, nổi bật
    màu trắng tinh khiết của hoa; giữa màu trắng của hoa lại chen chút sắc vàng của nhị.
    Từ “lại” được dùng rất tài tình, có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng màu sắc của hoa
    sen, từ “chen” nói lên sự kết hợp hài hoà giữa hoa và nhị, tất cả như cùng đua đẹp,
    đua tươi. Cảnh đầm sen giống như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp hiện lên dưới
    ngòi bút chấm phá thần tinh.
    8

    Câu thứ ba: “Nhị vàng bông trắng lá xanh”
    Câu này có vị trí đặc biệt trong toàn bài vì nó là câu chuyển (chuyển vần, chuyển
    nhịp, chuyển ý) để chuẩn bị cho câu kết.
    Từ câu thứ hai sang câu thứ ba có sự đột ngột, khác thường trong cách gieo vần {ang,
    anh) nhưng nhiều người không để ý. Sở dĩ như vậy là do sự chuyển vần và sự thay đổi
    trật tự các từ ngữ và hình ảnh đã được thực hiện một cách khéo léo, tự nhiên, hợp lí vể
    cả nội dung và hình thức.
    Hai chữ “nhị vàng” ở cuối câu thứ hai được lặp lại ở đầu câu thứ ba (điệp ngữ vòng)
    tạo nên tính liên tục trong tư duy, cảm xúc và sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung với
    hình thức trong toàn bài.
    Hai câu 2 và 3, tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp liệt kê và đảo trật tự từ: tả thực
    đến từng chỉ tiết: “lá xanh, bông trắng, nhị vàng” (tả đi); rồi tả lại: “Nhị vàng, bông
    trắng, lá xanh”. Tả từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới. Dường như người tả đang cố
    chứng minh bằng được vẻ đẹp của sen: đẹp từ sắc lá đến màu hoa, màu nhị. Sau đó lại
    nhấn mạnh thêm bằng cách đảo ngược: đẹp từ màu nhị đến màu hoa, sắc lá. Nghệ
    thuật miêu tả ở đây mới đọc qua tưởng chừng đơn giản, song thực sự đã đạt tới trình
    độ điêu luyện, tinh vi. Nghệ thuật ấy đã tôn vinh hoa sen lên hàng hoa quý, xứng đáng
    tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính.
    Câu thứ tư: “Gần bùn mà chẳng hồi tanh mùi bùn”.
    Dù mang tính chất ẩn dụ tượng trưng nhưng trước hết vẫn là tả thực về môi trường
    sống của cây sen. Sen thường sống ở trong ao, trong đầm lầy, nơi có nhiều bùn. Ấy
    vậy mà hoa sen lại rất thơm, một mùi thơm thanh khiết lạ lùng! Có thể coi đây là cái
    nút của toàn bài ca dao. Thiếu câu ca dao này, hình tượng của hoa sen vẫn tồn tại
    nhưng không có linh hồn và ý nghĩa. Nếu câu ca dao mở đầu là luận để mang ý nghĩa
    khái quát về hình tượng của hoa sen thì đến câu kết của bài ca dao, hình tượng bông
    sen trong tự nhiên đã chuyển sang hình tượng bông sen trong cuộc đời một cách uyển
    chuyển, nhẹ nhàng không có một sự gượng ép nào. Do đó mà nghĩa bóng của hoa sen
    cũng mở rộng không giới hạn. Chính vì vậy mà tính chất tượng trưng, ẩn dụ của hình
    tượng thơ nổi lên, lấn át hình ảnh thực. Nó tựa hồ như một cánh cửa kì diệu, khép
    nghĩa đen lại và mở nghĩa bóng ra một cách thần tình. Và thế là trong phút chốc, sen
    hóa thành người, bùn trong đầm (nghĩa đen) biến thành bùn trong cuộc đời (nghĩa
    bóng). Rồi cả hình ảnh cái đầm cùng mùi hôi tanh của bùn cũng được coi là ẩn dụ
    tượng trưng vì nó được hiểu theo nghĩa bóng với những mức độ rộng hẹp, xa gần
    khác nhau tuỳ theo trình độ mỗi người hoa sen. Có một cái gì đó rất gần gũi, đổng
    điệu giữa phẩm chất của hoa sen và phẩm chất của người lao động. Mùi bùn gợi liên
    9

    tưởng đến những cái xấu xa, thấp hèn của mặt trái xã hội phong kiến suy tàn cùng với
    lũ tham quan ô lại vô liêm sỉ. Còn vẻ đẹp trong trẻo và hương thơm ngát của hoa sen
    tượng trưng cho phẩm chất trong sạch, thanh cao, không chịu khuất phục trước hoàn
    cảnh của con người Việt Nam…..
    4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
    4.1. Tổng kết:
    - GV khái quát lại kiến thức.
    4.2. Hướng dẫn tự học:
    - Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.
    --------------------------------------------------------Buổi 3: CẢM THỤ CA DAO (Tiếp theo)
    I. MỤC TIÊU :
    1. Kiến thức: HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của
    các tác phẩm văn học dân gian.
    2. Kĩ năng:
    - HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
    - Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
    phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
    3. Phẩm chất, thái độ:
    - Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các dân gian như: tình
    yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, tình bạn bè...
    - Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
    hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
    II. Chuẩn bị
    1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
    2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
    III. Tiến trình
    1. Ổn định tổ chức.
    2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
    3. Bài dạy:
    Bài tập 5: Nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau:
              “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
              Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
    “Thân em như chẽn lúa đòng đòng
    Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.”
    10

    Gợi ý làm bài:
    Bài ca dao này có hai cái đẹp: cái đẹp của cánh đồng và cái đẹp của cô gái thăm đồng.
    Cả hai cái đẹp đều được miêu tả rất hay. Cái hay ở đây là cái hay riêng của bài ca dao
    này, không thấy có ở bất kỳ một bài ca dao nào khác.
              Ca dao thường được viết bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài ca dao này, nhà thơ
    dân gian đã viết bằng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ. Phân tích
    bài ca dao này, nhiều người thường chia ra hai phần: phần trên (hai câu đầu) là hình
    ảnh cánh đồng; phần dưới (hai câu cuối) là hình ảnh cô gái thăm đồng. Thực ra không
    hoàn toàn như vậy. Bởi vì, ngay từ hai câu đầu, hình ảnh cô gái thăm đồng đã xuất
    hiện hết sức rõ ràng và sống động với tất cả dáng điệu của một con người năng nổ,
    tích cực. Cô thôn nữ không làm chuyện văn chương thơ phú như ai, mà cô chỉ nói lên
    những rung động, những cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên của lòng mình khi ngắm nhìn
    cánh đồng lúa thân yêu của làng quê. Trước mắt là cánh đồng lúa “bát ngát mênh
    mông… mênh mông bát ngát”, thắng cánh cò bay, càng trông, càng “ngó”, càng thích
    thú tự hào. Đứng “bên ni” rồi lại đứng “bên tê” để ngắm nhìn, quan sát cánh đồng từ
    nhiều phía, dường như cô muốn thâu tóm, nắm bắt, cảm nhận cho thật rõ tất cả cái
    mênh mông bát ngát của đồng lúa quê hương. Câu ca dài mãi ra cũng với chân trời,
    với sóng lúa:
              “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
              Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
      “Ngó” gần nghĩa với với nhìn, trông, ngắm nghía… Từ “ngó” rất dân dã trong văn
    cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn không chán mắt, một cách quan sát kỹ
    càng. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó
    bên ni đồng”, dù ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước
    sự “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” của cánh đồng thân thuộc. Hai tiếng
    “bên ni” và “bên tê” vốn là tiếng nói của bà con Thanh, Nghệ dùng để chỉ vị trí “bên
    này”, “bên kia”, được đưa vào bài ca thể hiện đức tính mộc mạc, chất phác của cô
    thôn nữ, của một miền quê. Nghệ thuật đảo từ ngữ: “mênh mông bát ngát  // bát ngát
    mênh mông” góp phần đặc tả cánh đồng lúa rộng bao la, tưởng như không nhìn thấy
    bến bờ. Có yêu quê hương tha thiết mới có cái nhìn đẹp, cách nói hay như thế!
              Cả hai câu đầu đều không có chủ ngữ, khiến cho người nghe, người đọc rất dễ
    đồng cảm với cô gái, tưởng chừng như đang cùng cô gái đi thăm đồng, đang cùng cô
    “đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng…” và ngược lại. Nhờ vậy mà cái cảm giác về sự
    mênh mông, bát ngát của cánh đồng cũng lan truyền sang ta một cách tự nhiên và ta
    cảm thấy như chính mình đã trực tiếp cảm nhận, rút ra và nói lên điều đó.
    11

    Nếu như ở hai câu đầu, cô gái phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ cánh đồng lúa
    quê hương để chiêm ngưỡng sự “bát ngát mênh mông” của nó, thì ở hai câu cuối, cô
    gái lại tập trung ngắm nhìn, quan sát và đặc tả riêng một “chẽn lúa đòng đòng” và liên
    hệ so sánh với bản thân mình một cách rất hồn nhiên”
    “Thân em như chẽn lúa đòng đòng
    Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.”
    “Chẽn lúa” còn gọi là nhánh lúa, một bộ phận của khóm lúa. “Chẽn lúa đòng đòng”
    nói lên sự trưởng thành, sinh sôi nẩy nở, hứa hẹn một mùa sây hạt, trĩu bông. Hình
    ảnh so sánh “Thân em như “chẽn lúa đòng đòng” gợi tả một vẻ đẹp duyên dáng, xinh
    tươi, một sức lực căng tràn hứa hẹn. Đây là một hình ảnh trẻ trung, khoẻ khoắn, hồn
    nhiên nói về cô gái Việt Nam trong ca dao, dân ca. “Phất phơ” là nhẹ nhàng đung
    đưa, uốn lượn... “Chẽn lúa đòng đòng” phất phơ nhẹ bay trước làn gió trên đồng nội
    một buổi sớm mai hồng tuyệt đẹp. “Em” sung sướng hân hoan thấy hồn mình phơi
    phới niềm vui trước một bình minh đẹp. Có thể dùng hình ảnh “tia nắng”, “làn nắng”
    mà ý câu ca dao vẫn không thay đổi. Nhưng “ngọn nắng” hay hơn, sát nghĩa hơn, và
    đó là làn nắng, tia nắng đầu tiên của một ngày nắng đẹp, ánh hồng rạng đông đang
    nhuốm hồng ngọn lúa đòng đòng xanh ngào ngạt. Hai câu cuối bài ca hội tụ bao vẻ
    đẹp nói lên một tình quê vơi đầy. Vẻ đẹp màu xanh của lúa, mà hồng của nắng ban
    mai,… Vẻ đẹp duyên dáng, xinh tươi của cô thôn nữ và vẻ đẹp căng tràn nhựa sống
    của “chẽn lúa đòng đòng” trên cánh đồng bát ngát mênh mông. Qua đó, ta cảm nhận
    được vẻ đẹp của ngôn từ chính xác, hình tượng và biểu cảm. Giá trị thẩm mĩ của bài
    ca là ở cách nói mộc mạc, bình dị mà hồn nhiên, đáng yêu. Hai tiếng “thân em” gợi ra
    trong lòng người thưởng thức ca dao, dân ca một trường liên tưởng về hình ảnh cô gái
    làng quê: trinh trắng, dịu dàng, cần mẫn, thuỷ chung… những nàng “môi cắn chỉ quết
    trầu”, rất đáng yêu, đáng nhớ? Đọc bài ca dao này có người tự hỏi: buổi sớm mai
    hồng của mùa xuân hay mùa thu? Mùa xuân mới có “ngọn nắng hồng ban mai” đẹp
    rực rỡ như thế. Vả lại đó cô thiếu nữ thì phải có mưa xuân. Người đọc xưa nay vẫn
    cảm nhận là cô thôn nữ vác cuốc ra thăm đồng một sáng sớm mùa xuân đẹp.
              Tóm lại, bài ca dao nói về mùa xuân, đồng xanh và cô thôn nữ. Cảnh và người
    rất thân thuộc, đáng yêu. Cảnh vừa có diện vừa có điểm, câu ca đồng hiện không gian
    nghệ thuật và thời gian nghệ thuật “đơn sơ mà lộng lẫy”. Thơ lục bát biến thể sống
    động, lối so sánh ví von đậm đà, ý vị. “Thơ ca là sự chắt lọc tâm hồn, là tình yêu ta
    mơ ước…”. Đọc bài ca dao “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng…”, ta cảm thấy như
    thế. Hương quê và tình quê làm vương vấn tâm hồn ta, đem đến cho ta “tình yêu và
    mơ ước”…
    12

    Bài tập 6: Trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của bài ca dao sau:
    “Anh đi anh nhớ quê nhà
    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
    Nhớ ai dãi nắng dầm sương
    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.”
    Gợi ý làm bài:
    HS viết thành bài văn cảm nhận đảm bảo các ý cơ bản sau:
    - Bài ca dao giản dị, thể hiện sâu sắc, thấm thía tình yêu quê hương đất nước gắn bó
    hài hòa với tình yêu lứa đôi của chàng trai.
    - Thể thơ lục bát truyền thống kết hợp với nhịp thơ chẵn, giọng thơ tâm tình sâu lắng,
    rất phù hợp để diễn tả tình cảm nhớ nhung, bịn rịn.
    - Điệp từ “nhớ” điệp lại tới 5 lần diễn tả tình yêu tha thiết của chàng trai với cảnh vật
    và con người quê hương. Cách diễn đạt nỗi nhớ cũng thật đặc biệt: từ xa đến gần, từ
    chung đến riêng, từ phiếm chỉ đến xác định.
    - Hệ thống hình ảnh thơ vừa giản dị vừa gợi cảm được sắp xếp theo trình tự từ chung
    đến riêng làm nổi bật sự thống nhất giữa tình yêu quê hương và tình cảm đôi lứa.
    - Từ “quê nhà” mang tính khát quát, gợi sự thân thương, gần gũi. Đó có thể là cây đa,
    bến nước, sân đình gắn với bao kí ức tuổi thơ.
    - “Canh rau muống”, “cà dầm tương” gợi những món ăn bình dị nhưng chứa đựng nét
    đẹp truyền thống của dân tộc. Ai đi xa mà không them, không nhớ.
    - Các hình ảnh “Dãi nắng dầm sương” và “tát nước bên đường hôm nao diễn tả nỗi
    nhớ con người quê hương tảo tần dãi dầu sương gió, rất đáng yêu, rất đáng trân trọng.
    - Tuy nhiên, các hình ảnh này còn được đặt trong mối liên hệ với cách xưng hô độc
    đáo: “Anh”, “ai” đã giúp nhân vật trữ tình liên tưởng từ nỗi nhớ quê hương đến nỗi
    nhớ người yêu thật tự nhiên, hợp lí. Nếu ở hai câu đầu, nỗi nhớ còn chung chung thì
    hai câu sau, đối tượng của nỗi nhớ trở nên cụ thể hơn. Đại từ “ai” phiếm chỉ nhưng rất
    xác định. Qua cách xưng hô tình tứ này thì có lẽ đối tượng của nỗi nhớ chỉ có thể là
    người bạn gái nơi quê nhà. Nhất là cụm từ “hôm nao”. “Hôm nao” là cái hôm mà cả
    hai người đều không thể nào quên được. Nỗi nhớ trở nên thật cụ thể và đáng yêu biết
    nhường nào.
    4. Tổng kết, hướng dẫn tự học.
    4.1. Tổng kết: GV khái quát lại kiến thức.
    4.2. Hướng dẫn tự học: Viết thành bài văn hoàn chỉnh, xem lại phần lý thuyết.

    13

    Buổi 4: CẢM THỤ THƠ VĂN TRỮ TÌNH

    I. MỤC TIÊU :
    1. Kiến thức: HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung và nghệ thuật của
    các tác phẩm văn thơ trữ tình.
    2. Kĩ năng:
    - HS biết viết đoạn văn, bài văn cảm nhận có bố cục 3 phần: mở, thân, kết.
    - Diễn đạt tự nhiên, trong sáng, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng của mình về tác
    phẩm văn học, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu)
    3. Phẩm chất, thái độ:
    - Giáo dục cho hs những tình cảm đẹp mang tính nhân văn qua các tác phẩm thơ trữ
    tình.
    - Học sinh biết đồng cảm với nhân vật trong tác phẩm và vận dụng vào cuộc sống
    hàng ngày để điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ của mình.
    II. Chuẩn bị
    1. Chuẩn bị của giáo viên: Soạn bài
    2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu trước bài
    III. Tiến trình
    1. Ổn định tổ chức.
    2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
    3. Bài dạy:
    I. Một số lưu ý khi làm bài văn cảm nhận tác phẩm trữ tình:
    - Nắm vững hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời và sự nghiệp của từng tác giả. Bởi vì có
    những tác phẩm : “Trữ tình thế sự ”, đó là những tác phẩm nghi lại những xúc động,
    những cảm nghĩ về cuộc đời về thế thái nhân tình. Chính thơ “ trữ tình thế sự ” gợi
    cho người đọc đi sâu suy nghĩ về thực trạng xã hội. Cả hai tác giả Nguyễn Trãi Nguyễn Khuyến đều sáng tác rất nhiều tác phẩm khi cáo quan về quê ở ẩn . Phải
    chăng từ những tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến thì người đọc hiểu được
    suy tư về cuộc đời của hai tác giả đó.
    - Hiểu rõ ngôn ngữ thơ trữ tình giàu hình ảnh:
    Hình ảnh trong thơ không chỉ là hình ảnh của đời sống hiện thực mà còn giàu
    màu sắc tưởng tượng bởi khi cảm xúc mãnh liệt thì trí tưởng tượng có khả năng bay
    xa ngoài “ vạn dặm ”.
    -Mục đích chính của hình ảnh trong thơ trữ tình là sự khách thể hoá những rung cảm
    nội tâm, bởi thế giới tinh thần và cảm xúc con người vốn vô hình nên nhất thiết phải
    dựa vào những điểm tưạ tạo hình cụ thể để được hữu hình hoá.
    14

    - Hiểu rõ ngôn ngữ thơ trữ tình giàu nhạc tính . Bởi thơ phản ánh cuộc sống qua
    những rung động của tình cảm . Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện
    bằng từ ngữ mà bằng cả âm thanh nhiịp điệu của từ ngữ ấy . Nhạc tính trong thơ thể
    hiện ở sự cân đối tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ.
    Nhạc tính còn thể hiện ở sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ. Đó là sự thay đổi âm
    thanh cao thấp khác nhau. Chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà
    nghĩa không thể nói hết:
    “ Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
    Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
    Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
    Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát ” .
    (Tố Hữu)
    - Đặc điểm nổi bật của thơ trữ tình là rất hàm xúc điều đó đòi hỏi người cảm thụ
    phải tìm hiểu từ lớp ngữ nghĩa, lớp hình ảnh, lớp âm thanh, nhịp điệu để tìm hiểu...
     
    Gửi ý kiến